- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị V và anh C"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2024/ST-HNGĐ Ngày 26 / 3 /2024 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Doãn Xuân; Ông La Văn Liệu.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:186/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXX-ST, ngày 14 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lô Thị V - sinh năm 1994 – có mặt.
- Bị đơn: Anh Can Văn C - sinh năm 1990 - vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An.
- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm T2. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lô Thị V trình bày:
- Về tình cảm: Chị Lô Thị V và anh Can Văn C kết hôn vào ngày 08/8/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng thường xuyên bất đồng, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh C không quan tâm đến gia đình, vợ con, mặc dù đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải, khuyên nhủ nhưng anh C không từ bỏ ma túy, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lô Thị V làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C1 văn C.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị V có 02 người con chung là Can Thúy T – sinh ngày 28/02/2011 và Can Nhật T1 – sinh ngày 15/5/2015, hiện đang sinh sống cùng bà nội, nếu ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 người con chung và không yều cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Lô Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng chị V không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Can Văn C đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Về tình cảm: Chị Lô Thị V và anh Can Văn C đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện cho chị Lô Thị V được ly hôn với anh Can Văn C; Về con chung: Do hiện nay anh C không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh C nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con, cháu T và cháu T1 có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ nên đề nghị HĐXX xem xét giao con chung cho chị Lô Thị V trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lô Thị V; Về con chung: Giao 02 người con chung Can Thúy Tâm – sinh ngày 28/02/2011 và Can Nhật T1 – sinh ngày 15/5/2015 cho chị Lô Thị V trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Lô Thị V và anh Can Văn C tại UBND xã C, huyện C cho biết, sau khi kết hôn vợ chồng chị V và anh C sinh sống tại Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C nghiện ma túy, không chịu khó làm ăn nên chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh C hiện tại không có mặt ở địa phương đi đâu, làm gì, địa chỉ cụ thể thì chính quyền, địa phương không biết. Tại biên bản lấy lời khai bà Lương Thị K1 - Trú tại Bản C, xã C, huyện C là mẹ đẻ của anh C1 văn C cho biết, sau khi chị V và anh C kết hôn thì sinh sống cùng gia đình bà K1, mấy năm trở lại đây có xẩy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh C theo bạn bè xấu nên nghiện ma túy, không chịu khó làm ăn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên bất hòa, cãi vã nhau, gia đình cũng đã khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không thành, năm 2018 chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh C sau đó cũng đi làm thỉnh thoảng ngày lễ, ngày tết có về thăm con, thỉnh thoảng có gọi điện về thăm mẹ và con cái, còn địa chỉ cụ thể thì bà không biết, bà K1 mặc dù đã được nghe đọc lại biên bản lấy lời khai, xác nhận lời khai của bà là đúng sự thật nhưng không ký vào biên bản, cũng không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án đến tống đạt cho anh C nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi anh C cư trú và tại trụ sở UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An theo đúng quy định pháp luật.
Như vậy, bị đơn anh C1 văn C vắng mặt nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về và cũng không xác định được nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh C1 văn C đã được Tòa án niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Can Văn C theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Can Văn C không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Lô Thị V và anh Can Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 08/8/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lô Thị V và anh C1 văn C là hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng chị V và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị V và anh C đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh C1 văn C vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị V và anh C có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh C không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Lô Thị V và anh C1 Can Văn C không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn cho chị Lô Thị V được ly hôn với anh Can Văn C. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị V có 02 người con chung là Can Thúy T – sinh ngày 28/02/2011 và Can Nhật T1 - sinh ngày 15/5/2015, hiện đang sinh sống cùng bà nội, nếu ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 người con chung và không yều cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh C không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh C nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị V là chính đáng, cháu T và cháu T1 có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao 02 người con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành.Về cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Chị Lô Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lô Thị V phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lô Thị V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị V được ly hôn với anh Can Văn C, chị Lô Thị V và anh Can Văn C chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 người con chung Can Thúy Tâm – sinh ngày 28/02/2011 và Can Nhật T1 – sinh ngày 15/5/2015 cho chị Lô Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Can Văn C có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị Lô Thị V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lô Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000547 ngày 20/12/2023.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã Cam Lâm; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |