vanban.org

Bản án 40/2024/HSST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đỗ Quang L 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị báo bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2023. Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói niêm phong ký hiệu A1 = 0,2873g (Không phảy hai tám bảy ba gam) do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đỗ quang l - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HSST
Ngày 26 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhung và ông Lê Thúc Giang.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hương là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Trần Hồng Khánh, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại hội trường Ủy ban nhân dân phường HV, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Quang L, sinh ngày 23/5/1998; sinh trú quán: Thôn TL , xã TXuân, huyện SS, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Xuân M và bà Dương Ánh H; có vợ là Lăng Thị Nh và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 21/12/2023, Đỗ Quang L đang đi lang thang tại khu vực tổ 1, phường ĐX, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp dạng đá nên L đi lại gặp 01 người đàn ông tự giới thiệu tên là H bị nghiện đang ở cùng khu vực chỗ L đứng. Tại đây, L hỏi H: “Anh có hàng không, để em hai trăm ma túy đá”, H hiểu ý của L liền đồng ý và nói “Có, đưa tiền đây”. L lấy từ trong người ra số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông tên H. H cầm tiền rồi đưa lại cho L 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ bên trong có chứa tinh thể dạng đá màu trắng. Sau khi mua được ma túy, L cầm túi ma túy vừa mua ở lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi L vừa đi đến khu vực trước cửa quán bia 247 thuộc tổ 1, phường ĐX, thành phố Phúc Yên thì bị tổ công tác của Công an phường ĐX, thành phố Phúc Yên kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan gồm: Thu tại lòng bàn tay trái của L 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa các chất tinh thể dạng đá màu trắng, được niêm phong trong phong bao ký hiệu A1.

Tại kết luận giám định số: 3474/KL - KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận:

“Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi đến giám định có khối lượng 0,3308g (Không phảy ba ba không tám gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng của vụ án gồm có: 01 bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “MẪU TRẢ VỤ 3332” A1 = 0,2873g do Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Quang L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như các nội dung đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 41/CT - VKSPY ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đỗ Quang L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các vật chứng đã thu giữ được. Từ đó có đủ cở sở để xác định, bị cáo Đỗ Quang L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố của mình đối với bị cáo Đỗ Quang L và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Đỗ Quang L từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất quan điểm về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Quang L không có ý kiến gì tham gia tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không có kiến nghị hay khắc phục gì.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đỗ Quang L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố mà không có lời tự bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các vật chứng đã thu được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tại khu vực tổ dân phố 1, phường ĐX, thành phố Vĩnh Yên. Tổ công tác của Công an phường ĐX đã kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Đỗ Quang L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3308g (Không phảy ba ba không tám gam) chất ma túy theo kết luận giám định là loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Với hành vi trên của Đỗ Quang L đã có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…………………….

c, Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, gây nên sự đau khổ bất hạnh cho nhiều gia đình; ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Tội phạm về ma tuý là nguy cơ dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản…ngoài ra nó còn là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến căn bệnh thế kỷ: HIV - AIDS.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tuy Đỗ Quang L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng là đối tượng bị nghiện ma túy từ năm 2022 đến nay chưa từ bỏ được. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đỗ Quang L khai nhận. Do bản thân bị nghiện ma tuý nên khi có nhu cầu sử dụng, L đã tìm và mua ma túy của một người đàn ông có tên là Hưng (L không rõ tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông tên là Hưng) 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ với giá 200.000 đồng về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Đối với người người đàn ông tên Hưng, L khai đã bán ma tuý cho L do L không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông tên Hưng này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ thì xử lý sau.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Do bao gói niêm phong ký hiệu A1 = 0,2873g là mẫu vật được Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi đã giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do vậy, bị cáo Đỗ Quang L có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng, bản thân bị cáo là đối tượng bị nghiện ma túy, thu nhập thấp, gia đình thuộc diện kinh tế khó khăn, điều kiện kinh tế của bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Bị cáo Đỗ Quang L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên./.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Đỗ Quang L 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị báo bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói niêm phong ký hiệu A1 = 0,2873g (Không phảy hai tám bảy ba gam) do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu hành.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên và Công an thành phố Phúc Yên ngày 17 tháng 4 năm 2024).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Bị cáo Đỗ Quang L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ