vanban.org

Bản án 40/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hứa Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS, xử phạt Hứa Ngọc T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Ngọc Thượng phạm tội " tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hứa Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HSST
Ngày 27/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hạng Minh Thu

2. Ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Hứa Ngọc T, tên gọi khác: không. Sinh ngày 09/12/1988. ĐKHKTT:

Xóm M, xã NH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định được bố đẻ; Con bà Hứa Thị L; Vợ là Đàm Thị N, đã ly hôn; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957. Vắng mặt

Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 16/12/2023, tổ công tác của Công an phường

Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố Gia Bẩy của phường phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai nhận họ tên là Hứa Ngọc T, đồng thời tự lấy ra từ túi quần phía trước bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận gói giấy bạc màu trắng vừa giao nộp là ma túy Heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến

hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Hứa Ngọc T có khối lượng 0,228 gam và lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý ; Loại Heroine; Có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,228gam.

Tại Cơ quan điều tra, Hứa Ngọc T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày

16/12/2023, T đi xe buýt từ nhà tại xóm Mỹ Lập, xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực phường Đồng Bẩm để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm thì T xuống xe. Tại đây, T gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Đồng Bẩm phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu A1, A2 bên trong chứa ma

túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKSNDTPTN, ngày 05/02/2024 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hứa Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã

mô tả, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Hứa Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38

BLHS, xử phạt bị cáo Hứa Ngọc T từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu

hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

+ Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị

cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 16/12/2023, tại khu vực tổ dân phố Gia Bẩy,

phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Hứa Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,228 gam chất ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Hứa Ngọc

T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị

cáo là đối tượng nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự, tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không

có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Vật chứng vụ án: Đối với 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong

chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu cần tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ Hứa Ngọc T khai mua của một người

đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Gia Bẩy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hứa Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản

1 Điều 51BLHS, xử phạt Hứa Ngọc T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày

tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 98 ngày

26/02/2024 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho

biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ