- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T - T1"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/02/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
Trong ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 569/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1984, (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp V, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Trần Hoàng T1, sinh năm 1975, (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 28/7/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thu T trình bày:
Chị và anh Trần Hoàng T1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, anh T1 không biết quan tâm chia sẽ những khó khăn với chị trong cuộc sống. Anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Hoàng T1.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Hoàng C, sinh ngày 14/8/2010 và Trần Hoàng T2, sinh ngày 17/01/2015. Khi ly hôn chị đồng ý giao 02 con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc không thể tham gia phiên tòa nên chị T có đơn yêu cầu xin được vắng mặt trong quá trình xét xử.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu r yêu cầu của nguyên đơn, đơn khởi kiện, bản tự khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T1 vắng mặt không lý do và c ng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị T có đơn yêu cầu ly hôn với anh T1, bị đơn anh T1 cư trú tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Đồng thời chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59 vào ngày 12/7/2010, được xem là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời trình bày của chị T thì sau khi kết hôn, chị và anh T1 chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T1 không quan tâm, chia sẽ khó khăn với chị nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Hiện chị và anh T1 đã sống ly thân nhau hơn 06 năm nay, cả hai đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, chứng tỏ giữa chị T và anh T1 đã không còn tình cảm vợ chồng, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.....”. Do đó, việc chị T và anh T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong thời gian dài chứng tỏ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh T1, mở phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn cho các bên nhưng anh T1 vắng mặt không lý do và c ng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn, từ đó cho thấy anh T1 không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Do đó, chị T yêu cầu xin ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh T1 có 02 con chung tên Trần Hoàng C, sinh ngày 14/8/2010 và Trần Hoàng T2, sinh ngày 17/01/2015. Xét thấy, cháu C và cháu T2 hiện đang sống với anh T1, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định. Chị T c ng đồng ý giao cháu C và cháu T2 cho anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng. Tại bản tự khai của cháu T2 và cháu C đều có nguyện vọng sống với anh T1. Đồng thời anh T1 không có ý kiến phản đối về vấn đề con chung khi ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trần Hoàng C và cháu Trần Hoàng T2 cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
3.3. Về cấp dưỡng: Anh T1 không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn với anh Trần Hoàng T1.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Hoàng C, sinh ngày 14/8/2010 và Trần Hoàng T2, sinh ngày 17/01/2015 cho anh Trần Hoàng T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị Trần Thị Thu T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002013 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên chị T đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - UBND xã Đăng Hưng Phước, H. Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Thị Mỹ Nhanh |