- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bài - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:40/2023/HS-ST Ngày 16-02 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dƣơng Thị Bạn;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn R, sinh năm 1994 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cƣ trú: Ấp 9, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Ấp 1B, xã T, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Bùi Thị C, sinh năm 1961; bị cáo có vợ tên Võ Thị Bé L, sinh năm 1991; tiền án: Ngày 14/11/2012 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phƣớc xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 81/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 14/4/2013, bị cáo chƣa đóng án phí; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2023 đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1988. Vắng mặt.
2. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1981. Vắng mặt.
3. Bà Lê Thị Thanh P, sinh năm 1971. Vắng mặt.
4. Bà Hà Thị Em N, sinh năm 1966. Vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1994. Vắng mặt.
6. Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1991. Vắng mặt.
7. Ông Ka H, sinh năm 1996. Vắng mặt.
8. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969. Vắng mặt.
9. Ông Diệp Văn N, sinh năm 1961. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/5/2018, Hà Thị Em N, Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thanh L, Lê Thị Thanh P, Trần Thanh T cùng nhau chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dƣới hình thức “binh Ấn Độ” tại phòng trọ số 10 thuộc cơ sở trọ “An Nhiên” địa chỉ A20/3 khu phố Bì, phƣờng T, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng. Các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi ngƣời làm cái từ 03 đến 05 ván rồi chuyển sang ngƣời khác, ngƣời nào không làm thì chuyển sang ngƣời kế tiếp, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày có Nguyễn Văn R (em ruột của L) đến và cùng tham gia đánh bạc, R đặt chung tụ của L đƣợc 03 ván thua hết 500.000 đồng nên ngồi xem. Trong lúc P làm cái thì có đƣa số tiền 100.000đồng cho ngƣời phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch là ngƣời thuê phòng trọ số 10. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, bị lực lƣợng Công an phƣờng Thuận Giao bắt quả tang thì P đang làm cái và thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.450.000đồng; 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; số tiền 6.500.000đồng trên ngƣời của Nguyễn Thành T; số tiền 7.450.000 đồng trên ngƣời của Nguyễn Hữu Đ; 14.000.000đồng trên ngƣời của Lê Thị Thanh P; số tiền 2.000.000đồng của Trần Thanh T và 500.000đồng của Nguyễn Thanh L.
Quá trình điều tra, Hà Thị Em N, Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thanh L, Lê Thị Thanh P, Trần Thanh T và Nguyễn Văn R đã khai T bộ hành vi phạm tội và số tiền sử dụng đánh bạc nhƣ sau:
Hà Thị Em N sử dụng 2.500.000đồng để đánh bạc, thua 1.000.000đồng. Khi bắt quả tang, N đã bỏ số tiền 1.500.000đồng ra tại chiếu bạc.
Nguyễn Hữu Đ sử dụng 2.000.000đồng để đánh bạc, thắng 5.450.000đồng, khi bắt quả tang thu giữ 7.450.000đồng trên ngƣời của Đ.
Nguyễn Thành T ban đầu sử dụng 5.000.000đồng đánh bạc, thua hết. Sau đó, T nhờ ông Hận đem cầm xe mô tô đƣợc 5.000.000đồng, T tiếp tục sử dụng 5.000.000đồng này để đánh bạc, thắng 1.500.000đồng. Khi Công an bắt quả tang thu giữa 6.500.000đồng trên ngƣời của T.
Nguyễn Thanh L sử dụng 3.000.000đồng để đánh bạc, thua 2.000.000đồng. Khi Công an bắt quả tang, L bỏ ra tại chiếu bạc số tiền 500.000đồng và bị thu giữ 500.000đồng trên ngƣời của L.
Lê Thị Thanh P sử dụng 15.000.000đồng để đánh bạc, thua 250.000đồng. Khi Công an bắt quả tang, P bỏ ra chiếu bạc số tiền 750.000đồng và bị thu giữ 14.000.000đồng trên ngƣời của P.
Trần Thanh T sử dụng 3.100.000đồng để đánh bạc, thua 400.000đồng. Khi Công an bắt quả tang, T bỏ ra chiếu bạc số tiền 700.000đồng và bị thu giữ 2.000.000 đồng trên ngƣời của T.
Nguyễn Văn R sử dụng 500.000đồng để đánh bạc, đã thua hết.
Nhƣ vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 35.900.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn R, Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Thành T đã bỏ trốn nên ngày 10/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thuận An đã Quyết định truy nã. Đến ngày 05/11/2022 bắt đƣợc bị cáo Nguyễn Văn R nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án.
Đối với Lê Thị Thanh P, Trần Thanh T, Hà Thị Em N, Nguyễn Thanh L phạm tội Đánh bạc vào ngày 01/5/2018, Tòa án nhân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã xét xử tại Bản án số 215/2018/HSST ngày 06/11/2018.
Cáo trạng số 53/CT-VKS-TA ngày 16/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn R về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chƣa đƣợc xóa án tích là trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R mức hình phạt từ 08 (tám) tháng đến 10 (mƣời) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với những vật chứng thu giữ trong vụ án đã đƣợc giải quyết tại Bản án số 215/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nên không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện Đ về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, Đ quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn R đã thành khẩn khai nhận T bộ hành vi phạm tội lời khai của bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ trong vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 30 phút đến 19 giờ ngày 01/5/2018, tại phòng trọ số 10 thuộc cơ sở trọ “An Nhiên” địa chỉ A20/3 khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Nguyễn Văn R cùng các đối tƣợng Trần Thanh T, Lê Thị Thanh P, Hà Thị Em N, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hữu Đ, đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dƣới hình thức đánh bài “binh Ấn Độ” với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 35.900.000đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn R đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và Đ pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, ảnh hƣởng đến lối sống lành mạnh trong cộng đồng dân cƣ, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản là tiền lẫn nhau nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chƣa đƣợc xóa án tích là trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Thành T đã bỏ trốn khỏi nơi cƣ trú, chƣa xác định đƣợc bị can ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, Quyết định tạm đình chỉ bị can và đã Quyết định truy nã nên sẽ xem xét ở vụ án khác khi có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
Đối với những vật chứng thu giữ trong vụ án đã đƣợc giải quyết tại Bản án số 215/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với Lê Thị Thanh P, Trần Thanh T, Hà Thị Em N, Nguyễn Thanh L đã đƣợc giải quyết tại Bản án số 215/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1.Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội Đánh bạc.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2023.
3. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Văn R phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |