- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Khăm L, Lữ Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ đang niêm phong, dán kín.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HSST Ngày 29 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vừ Y Xừ;
Bà Bùi Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông Già Bá Lầu -Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Khăm L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/8/1991 tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản L, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L (đã chết) và bà Vi Thị S; vợ: Lô Thị E và 02 (Hai) con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Lương Khăm L bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2023 đến nay, hiện đang tạm giam; Có mặt.
2. Họ và tên: Lữ Văn M; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/10/1993 tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Văn Đ (Đã chết) và bà Mạc Thị L; vợ; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 14/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 24/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trốn khi đang bị dẫn giải”. Tổng hợp hình phạt của 02 (Hai) bản án là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/02/2019, đã được xóa án tích. Bị cáo Lữ Văn M bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2023 đến nay, hiện đang tạm giam; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Khăm L: Bà Võ Thị Hoài, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn M: Ông Lê Công Thiết, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Vi Khăm H, sinh năm 1986; nơi cư trú: bản C, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 27/02/2023, Lương Khăm L đang đi bộ tại khu vực bản L, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông không quen biết, Lương Khăm L hỏi và mua của người này 01 (một) cục ma túy (Heroine) với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn). Mua được ma túy, Lương Khăm L cất giấu trong người rồi đi bộ đến chơi tại nhà của Lữ Văn M, trú tại bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, Lương Khăm L cùng với Lữ Văn M lấy cục ma túy ra nghiền thành bột, sau đó ra ngoài vườn sử dụng một ít. Số ma túy còn lại, chia thành 02 (Hai) gói nhỏ, số ma túy này Lương Khăm L nhờ Lữ Văn M cất giấu hộ. Đến khoảng 08 giờ, ngày 27/02/2023, Lương Khăm L đi đến nhà của Lữ Văn M để lấy ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 27/02/2023 đã xác định: Chất màu trắng thu giữ của các đối tượng Lương Khăm L và Lữ Văn M có khối lượng là 0,12 gam (Không phẩy mười hai).
Kết luận giám định số 272/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 06/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Lương Khăm L và Lữ Văn M gửi tới giám định là ma túy (Heroine).
Tại Cơ quan điều tra, Lương Khăm L và Lữ Văn M đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma tuý là để sử dụng.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy (Heroine) là vật chứng, sau khi trích mẫu gửi giám định thì số còn lại có khối lượng 0,07 gam (Không phẩy không bảy) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu, đã được Cơ quan điều tra chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số 41/CT-VKS-KS ngày 14/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn đã truy tố các bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Khăm L mức án từ 14 (Mười bốn) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Lữ Văn M mức án từ 13 (Mười ba) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Heroine) là vật chứng có khối lượng 0,07 gam (Không phẩy không bảy) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu; về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện Kiểm Sát đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì. Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến. Do sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ, ngày 27/02/2023, tại bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An, các bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam (Không phẩy mười hai) ma túy (Heroine) nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi đó của các bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội các bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội cũng như sức khỏe của con người và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để mua bán, tàng trữ trái phép làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, phải xử lý các bị cáo nghiêm minh, cần tuyên phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.
Đây là vụ án có đồng phạm nên phải xem xét tính chất, mức độ của từng bị cáo để lên cho các bị cáo mức án tương xứng với hành vi mình đã gây ra: Đối với bị cáo Lương Khăm L là người khởi xướng và trực tiếp mua ma túy từ một người đàn ông không quen biết nên phải chịu mức án cao hơn; bị cáo Lữ Văn M không trực tiếp mua ma túy nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực đó là khi Lương Khăm L mua ma túy về, đã cùng Lương Khăm L sử dụng ma túy và cất giấu ma túy tại nhà của mình nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Bị cáo Lương Khăm L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với bị cáo Lữ Văn M là người có nhân thân xấu, đã từng 01 (Một) lần bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 (Một) lần bị xét xử về tội “Trốn khi đang bị dẫn giải”, mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy những lần phạm tội trước làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội, mà bị cáo tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Các đối tượng liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lương Khăm L, do Lương Khăm L không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn đang tiếp tục điều tra, khi nào có căn kết quả sẽ xử lý.
Về vật chứng vụ án: Số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại 0,07 gam (Không phẩy không bảy) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.
Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Khăm L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/02/2023).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lữ Văn M 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/02/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ đang niêm phong, dán kín. Trên mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và tên của các bị cáo Lương Khăm L, Lữ Văn M và đóng 05 (năm) hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, bên trong có chứa 0,07 gam (Không phẩy không bảy) ma túy (Heroine) và vỏ giấy niêm phong ban đầu. (Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12/4/2023 giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lương Khăm L và Lữ Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/5/2023)./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Kỳ Sơn; - CQTHAHS huyện Kỳ Sơn; - CCTHADS huyện Kỳ Sơn; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |