- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dunh phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HSST Ngày 27 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Chí Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lan
Ông RChâm Đương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2023/HSST ngày 22 - 8 - 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 08 - 9 - 2023 đối với bị cáo: D, sinh năm 1970 tại tỉnh G; nơi cư trú: làng N, xã H, huyện Đ, tỉnh G; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: học lớp 3/12; dân tộc: J; tôn giáo: T; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Rơ Châm D (chết) và bà Puih M, sinh năm 1954; vợ là Y và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Ông Ksor I, sinh năm 1945 (chết).
Người đại diện hợp pháp: Anh Ksor B, sinh năm 1990; trú tại: làng B, xã I, huyện Ia, tỉnh G. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Siu G, sinh năm 1977; trú tại: làng B, xã I, huyện Ia, tỉnh G. Có mặt.
* Người làm chứng:
Ông Trịnh Xuân H, sinh năm 1987; trú tại: làng B, xã I, huyện Ia, tỉnh G. Có mặt.
Ông Puih D, sinh năm 1959; trú tại: làng B, xã I, huyện Ia, tỉnh G. Có mặt.
* Người phiên dịch: Anh Puih D. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
D là người có giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, sau khi uống rượu tại nhà ông Siu G ở làng B, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81H1 - xxxxxx của D chở phía sau là ông Siu G lưu thông theo hướng xã Ia. Khi đi đến khu vực làng B do bị say rượu, không làm chủ được tay lái nên đã điều khiển xe lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều tông vào ông Ksor I đang dắt xe đạp đi theo chiều ngược lại. Hậu quả làm ông I chết tại chỗ, D và ông Siu G bị thương, xe đạp và xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả đo nồng độ cồn vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 23/02/2023 của D là 0,277mg/l.
Tại kết luận giám định pháp y tử thi số 229/KLGĐTT-KTHS ngày 07/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Nguyên nhân chết của ông Ksor I là do đa chấn thương.
Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo D đã bồi thường cho đại diện bị hại tổng số tiền 113.000.000đ. Đại diện bị hại bãi nại cho bị cáo.
Ông Siu G từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì.
Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
* Diễn biến tại phiên toà:
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 113.000.000đ là tiền bồi thường của bị cáo, nay không yêu cầu gì. Ôn Siu G không có yêu cầu gì.
Trình bày luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ đến 36 tháng đến 42 tháng tù; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
. Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, các biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cũng như nội dung cáo trạng đã mô tả. Nên đủ căn cứ để kết luận: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/02/2023 tại khu vực làng B, bị cáo D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81H1- xxxxx trong tình trạng đã sử dụng rượu, chở phía sau là ông Siu G đi không đúng phần đường, tông vào ông Ksor I đang dắt xe đạp theo chiều ngược lại. Hậu quả là làm cho ông Ksor I bị chết, ông G bị thương nhẹ. Do vậy bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự.
. Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe hạng A1 nhưng điều khiển xe tham gia giao thông không đúng phần đường quy định, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; điều khiển xe mô tô trong tình trạng có sử dụng rượu bia, vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại rượu bia năm 2019, hậu quả xảy lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng cho người đại diện hợp pháp của bị hại và được họ đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; căn cứ tính chất, mức độ của việc phạm tội và nhân thân của bị cáo; đồng thời xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại đã thoả thuận bồi thường xong thiệt hại. Tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét đến nữa.
. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Xử phạt bị cáo D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Công an huyện Ia Grai; - Cơ quan THAHS CA huyện Ia Grai; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Chí Công |