- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm đối với Cao Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:40/2023/HSST Ngày:28/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Thuý
Các hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đức Giang và bà Tạ Thị Hoa.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: bà Tăng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 28/3/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2023/TLST - HS ngày 17/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Văn T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/11/1988 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Cao Văn T1, sinh năm 1956; Họ tên mẹ: Đặng Thị N, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Chu Thị N1, sinh năm 1991; Con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 13/01/2022, Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST, bị TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; bị cáo đã chấp hành xong hình hình phạt. Hiện bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: bà Thái Thị O, sinh năm 1966 (đã chết)
Địa chỉ: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Đại diện hợp pháp cho bị hại: ông Ngô Văn T2, sinh năm 1989. Trú tại: xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1964. Trú tại: khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/7/2019, Cao Văn T (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48 của Công ty Cổ phần X đi từ xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đến xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo đường Q rẽ lên Quốc lộ G. Đến khoảng 17 giờ, khi T điều khiển xe đến ngã tư Cầu B thuộc thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì T bật đèn xi nhan xin rẽ phải. Trực nhìn qua gương chiếu hậu bên phải quan sát phía sau xe và quan sát phía trước xe nhưng không quan sát khu vực bên phải phía trước đầu xe nên khi chuyển hướng đã va chạm với xe máy điện do bà Thái Thị O (sinh năm 1966, trú tại xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) điều khiển. Hậu quả bà O chết tại chỗ.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ kết quả như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn khi tiến hành khám nghiệm còn phương tiện, dấu vết và tử thi. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông được xác định tại km 00 + 05 m đường Q thuộc địa bàn xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Mặt đường được rải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, rộng 12m. Nơi đoạn đường xảy ra tai nạn được mở rộng hai bên nối với đường Q chiều đường H - N. Hành lang giao thông thoáng đãng, không bị che khuất.
* Việc ghi nhận, đánh dấu vị trí phương tiện, dấu vết:
- Tử thi Thái Thị O đánh số (1)
- Xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48 đánh số (2).
- Xe máy điện màu trắng đen nhãn hiệu VYEM đánh số (3).
- Tổ chức cơ thể người kích thước (3,3 x 1,1) m đánh số (4).
* Xác định điểm mốc, điểm chuẩn đo đạc: Hội đồng khám nghiệm hiện trường thống nhất lấy cột biển báo đường dành cho người đi bộ sang ngang ở phía Bắc đường Quốc lộ 7B làm mốc xác định (cột biển báo ngay đầu đường Quốc lộ 7B giao nhau với đường Q). Lấy mép đường nhựa phía Bắc đường Quốc lộ 7B làm chuẩn để đo đạc. Đơn vị đo là mét (m).
* Mô tả hiện trường:
(1) Tử thi nằm sấp, đầu hướng N, chân trái hướng Bắc, chân phải hướng Tây. Tay trái bị bánh xe phía trước của hai dàn lốp sau bên phải đè lên. Đo từ đỉnh đầu tử thi đến mép đường làm chuẩn là 2,7m. Đo từ bàn chân phải đến mép đường nhựa làm chuẩn là 2,1m.
(2) Xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48 đỗ ở phần đường phía Bắc đường Quốc lộ 7B đầu hướng Tây – N, đuôi hướng Đông – Bắc thuộc đường Q. Đo từ trục bánh trước phía bên phải xe ô tô đến mép đường nhựa làm chuẩn là 3,65m. Đo từ trục bánh sau phía bên phải xe ô tô đến điểm mốc xác định là 1,3m. Đo từ trục bánh sau phải bên phải xe ô tô đến mép đường nhựa phía Tây đường Quốc lộ 1A chiều hướng Bắc – Nam là 7,15.
(3) Xe máy điện màu trắng đen ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng Tây – B, đuôi xe hướng Đông – Nam trên đường Q. Đo từ trực bánh trước xe máy điện đến mép đường nhựa làm chuẩn là 1,2m và đến trục bánh sau pháo bên phải xe ô tô là 1,5m. Đo từ trục bánh sau xe máy điện đến mép đường nhựa làm chuẩn là 0,4m. Đo từ trục bánh sau xe máy điện đến mép đường nhựa phía Tây đường Quốc lộ 1A chiều hướng Bắc – Nam là 4,8m.
(4) Trên mặt đường nhựa Quốc lộ G để lại một vùng tổ chức cơ thể người nằm rải rác có kích thước (3,3 x 1,1)m.
* Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:
- Dấu vết để lại trên xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48 :
+ Phía sau bên phải ba đờ xốc trước bề mặt phía ngoài có vết trượt xước sơn, kim loại, nhựa không liên tục chiều hướng trước ra sau, kích thước (17 x 1) cm, trên bề mặt dấu vết có chỗ bám mạt chất màu đen, tâm vết cao cách mặt đất 95 cm (dấu vết kéo dài từ ba đờ xốc đến phía trước thành bậc lên xuống bên phải cabin).
+ Ốc nhựa, đệm cao su ở phía sau dưới bên phải ba đờ xốc bề mặt bị bong tróc sơn, kích thước (1,6 x 1,5) m, vết cao cách mặt đất 62,5cm.
+ Mặt ngoài phía trước bậc lên xuống phía dưới phía bên phải cabin bị trượt xước kim loại bám mạt chất nàu trắng, kích thước (1,1 x 0,3) cm.
+ Bề mặt phía sau của thành đứng phía trước bậc lên xuống cabin có bám dính chất màu nâu đỏ dạng tia bắn kích thước (4,5 x 2,5) cm. T3 vết cao cách mặt đất 97 cm.
+ Thành lốp phía ngoài lốp trước bên phải vị trí phía trên đầu các chữ “PL” thuộc hàng chữ “EFFIPLUS” có vùng dấu vết bám dính mạt chất màu nâu đỏ từ vị trí giáp mặt lăn trở vào kích thước (11,5 x 11,5) cm, đặc điểm vết có dạng tia bắn từ ngoài mặt lăn vào tâm trục.
+ Ốp vành tăng bua bánh trước bên phải có vết trượt sạch bụi đất bám kích thuốc (10 x 14) cm.
+ Hệ thống phanh, đèn, còi hoạt động bình thường, có hiệu lực.
- Dấu vết để lại trên xe máy điện (BL 32, 33)
+ Mặt sau phía ngoài phanh tay bên trái có vết trượt xước sơn bám dính mạt chất màu trắng, kích thước (1,8 x 1) cm hướng sau ra trước, trái sang phải, tâm vết cao so với mặt đất 95 cm.
+ Mặt trước ngoài tay phanh bên trái bị trượt xước sơn kim loại kích thước (1,3 x 1) cm, hướng trước ra sau.
+ Ốp kim loại phía ngoài bên trái tay lái bị đẩy cong về sau, mặt trước bị trượt xước kim loại, kích thước (2,5 x 2,3) cm.
+ T4 kim loại phía trên giỏ xe vị trí mặt ngoài phía trước bên trái bị trượt xước mòn vỏ bọc kim loại, kích thước (3,5 x 0,7) cm, tâm vết cao so với mặt đất 72,5cm.
+ Đèn chiếu sáng phía trước bị tụt đứt rơi ra ngoài.
+ Hệ thống phanh, đèn, còi hoạt động bình thường, có hiệu lực.
* Kết luận giám định pháp y về tử thi:
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 240/KL-PC09(PY) ngày 05/8/2019 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, mài miết, mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu; bong lóc và dập nát da, cơ, gân. Toàn bộ vùng đầu, trán, mặt bị sập, vỡ, biến dạng. Xương cẳng tay, bàn, ngón tay trái bị gãy ở nhiều vị trí. Xương hộp sọ và xương hàm mặt bị vỡ nát thành nhiều mảnh; máu và tổ chức não bị dập nát chảy ra ngoài qua đường vỡ xương và vết thương. Tổ chức ruột, các tạng trong ổ bụng bị đứt, rách, dập nát, chảy ra ngoài qua vết thương. Nguyên nhân chết là do dập nát cơ thể do chấn thương.
* Kết luận về dấu vết trên phương tiện và hiện trường:
Tại bản kết luận giám định số 249/KLGĐ-KTHS(DVCH) ngày 09/8/2019 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
1. Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe máy điện di chuyển trên ngã tư giao nhau giữa đường Q với đường Quốc lộ 7B theo hướng Bắc – N. Xe ô tô 37C – 177.48 di chuyển từ trái sang phải, từ sau ra trước theo hướng di chuyển của xe máy điện.
2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô 37C – 177.48 với xe máy điện:
+ Trên hiện trường: Ở góc T ngã tư giao nhau giữa đường Q với đường Q.
+ Trên phương tiện:
Trên xe ô tô 37C – 177.48: Ở phía sau bên phải ba đờ xốc trước.
Trên xe máy điện: Ở tay phanh bên trái.
3. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô 37C – 177.48 và xe máy điện ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu của Cao Văn T: Nồng độ cồn trong hơi thở là 0,00 miligam/1 lít khí thở. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu của bà Thái Thị O: Bà O tử vong ngay sau khi xảy ra tai nạn nên không đo được nồng độ cồn.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông; kết luận giám định pháp y về tử thi; kết luận giám định; kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu; lời khai bị can và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra xác định: Nguyên nhân của vụ tai nạn là do Cao Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48 không có giấy phép lái xe theo quy định, chuyển hướng không đảm bảo các điều kiện an toàn, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cao Văn T rời khỏi hiện trường. Đến ngày 16/7/2019, Cao Văn T đến Cơ quan CSĐT Công an huyện D trình báo và khai tên là Nguyễn Văn D, sinh ngày 16/02/1986, trú tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, đồng thời giao nộp 01 (một) giấy phép lái xe giả hạng A1, FC mang tên Nguyễn Văn D nhưng có hình ảnh chân dung của T. Trong quá trình điều tra, Cao Văn Trực tiếp t cung cấp 01 (một) bản sao sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ là Nguyễn Văn D có thông tin phù hợp với giấy phép lái xe mà T đã giao nộp. Sổ hộ khẩu này là do T nhờ ông Nguyễn Bá T5 (sinh năm 1979, trú tại thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) – là Trưởng Công an xã Q và ông Nguyễn Ngọc Đ (sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) – là Phó Trưởng Công an xã Q phụ trách công tác hộ khẩu làm giả cho T. Sau đó, bà Chu Thị N2 (sinh năm 1980, trú tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) – là Chủ tịch UBND xã Q đã ký chứng thực sổ hộ khẩu giả này.
Ngày 20/01/2020, tại bản án số 01/2020/HSST, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã tuyên Nguyễn Văn D 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 30 (ba mươi) tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Ngày 04/8/2022, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã quyết định hủy bản án số 01/2020/HSST của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu để điều tra lại.
Ngày 29/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã thụ lý lại và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cao Văn T.
Tại bản cáo trạng số 18/CT- VKS-HS ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Cao Văn T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Cao Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, Cao Văn T đã bồi thường thiệt hại về tính mạng, tài sản cho đại diện gia đình nạn nhân là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Đại diện gia đình nạn nhân có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm gì về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ như: biên bản khám nghiệm hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện, kết quả giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/7/2019, Cao Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48 đi từ xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo đường Q, rẽ vào đường Q để đi xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Khi đi đến km 00 + 05 m Quốc lộ G ngã tư Cầu B thuộc thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, do thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng sai quy định nên đã va chạm với xe máy điện do bà Thái Thị O điều khiển. Hậu quả bà O chết tại chỗ. Bị cáo không có giấy phép lái xe nên hành vi này của bị cáo Cao Văn T đủ dấu hiệu cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng do đó cần xét xử nghiêm. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã có hành vi sử dụng Giấy phép lái xe và Sổ hộ khẩu giả mang tên “Nguyễn Văn D” nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; gây khó khăn cho quá trình điều tra, thi hành án. Ngày 13/01/2022, bị cáo đã bị TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Như vậy thể hiện bị cáo có thái độ coi thường pháp luật; do đó cần xét xử bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo rèn luyện, học tập trở thành người có ích cho xã hội; đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố của bị cáo là người có công với Nhà nước nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: mặc dù bị cáo đang chấp hành án của Bản án hình sự đang có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên hành vi phạm tội tại bản án này xảy ra sau hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, do vậy bị cáo không thuộc trường hợp “tái phạm”; tuy nhiên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, Cao Văn T đã bồi thường thiệt hại về tính mạng, tài sản cho đại diện gia đình nạn nhân là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Đại diện gia đình nạn nhân có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm gì về dân sự. Vì vậy hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng và tài liệu liên quan:
- Đối với phương tiện, giấy tờ xe liên quan đến vụ tai nạn giao thông: Xe ô tô biển kiểm soát 37C – 177.48, các loại giấy tờ xe ô tô và xe máy điện, sau khi tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
- Đối với giấy phép lái xe giả mang tên Nguyễn Văn D, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã trả lại cho Cao Văn T (lúc này T đang sử dụng tên giả là Nguyễn Văn D). Sau khi nhận lại giấy phép lái xe giả thì T đã làm mất nên không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả và sổ hộ khẩu giả của Cao Văn T đã được xử lý tại bản án số 04/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đối với bà Thái Thị O là người điều khiển xe máy điện, khi tham gia giao thông đã đi đúng phần đường, tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ nên không có lỗi.
Đối với ông Nguyễn Hữu Q là Giám đốc Công ty Cổ phần X, ông Q không biết T sử dụng giấy phép lái xe giả nên ông Q không phạm tội.
Đối với hành vi làm giả giấy tờ của Nguyễn Bá T5, Nguyễn Ngọc Đ, Chu Thị N2, đã bị cơ quan tố tụng huyện Q, tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: căn cứ Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Khoản 2, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Cao Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Cao Văn T phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên an. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Diễn Châu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - CA, THA Hình sự h. Diễn Châu; - THA Dân sự huyện Diễn Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - UBND xã Quỳnh Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Đức Thúy |