- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nguyên S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nguyên S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày 30/3/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thiện Lợi;
2. Ông Vũ Tiến Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Lương Duy Hiển, ông Lương Duy Long - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2023/HSST ngày 02 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo: Trần Nguyên S, sinh ngày 25/10/1986, Nơi sinh: Tỉnh T. Nơi ĐKHHTT: Thôn K, xã S1, huyện T1, tỉnh T. Chỗ ở hiện nay: Tổ 05, phường H, thành phố T, tỉnh T. Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Nguyên Ư (đã chết) và bà Vũ Thị Đ (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 01/2006 - HSST ngày 05/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T xử phạt 09 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, đã chấp hành xong năm 2006. Quyết định số 1106/QĐ-UB ngày 03/8/2009 của Ủy ban nhân dân huyện T1 về việc đưa người nghiện ma túy vào trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lạo động xã hội thành phố T thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong năm 2010. Bản án số 125/2014 - HSST ngày 28/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt tù năm 2016, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí ngày 20/7/2020. Bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022 chuyển tạm giam đến nay.
* Người chứng kiến:
- Anh Vũ Công T2, sinh năm 1974, trú tại tổ 09, phường H, thành phố T.
- Anh Vũ Văn B, sinh năm 1979, trú tại tổ 09, phường H, thành phố T, tỉnh T.
* Người tham gia tố tụng khác:
Ông Đặng Quốc H1, ông Hà Văn H2, ông Trần T3 - Cán bộ Nhà tạm giam/tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh T.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt anh T2, anh B).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 24/12/2022, Trần Nguyên S đi bộ từ chỗ ở ra khu vực đường N, phường B1, thành phố T với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi S gặp và mua của một người nam giới khoảng 45 tuổi, không biết tên, địa chỉ 03 túi ma túy, loại Methamphetamine với giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đi đến khu vực tổ 05, phường H, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường H, thành phố T phát hiện. Trước sự chứng kiến của anh Vũ Công T2 và anh Vũ Văn B, S đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 03 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất tinh thể trong suốt, S khai nhận đó là ma túy đá S mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác quản lý của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu xanh đã cũ. Ngày 25/12/2022, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T khám xét chỗ ở của Trần Nguyên S đã thu giữ, quản lý 01 bình sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa.
Bản kết luận giám định số 486/KL-KTHS(MT) ngày 26/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật quản lý của Trần Nguyên S gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 5,7505 gam.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKSTPTB ngày 01/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định và chiếc bình sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa. Tịch thu sung qũy nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu xanh quản lý của bị cáo.
* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định số 486/KL-KTHS(MT) ngày 26/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản xác minh; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến; Các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút, ngày 24/12/2022, tại khu vực tổ 05, phường H, thành phố T, tổ công tác Công an phường H, thành phố T phát hiện và bắt quả tang Trần Nguyên S có hành vi tàng trữ trái phép 03 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 5,7505 gam mục đích sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần phạm tội bị Tòa án đưa ra xét xử, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, mẹ đẻ bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về hình phạt có phần nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Về vật chứng của vụ án:
Số Methamphetamine còn lại sau giám định là 5,4384 gam thu giữ của bị cáo, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc bình sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa là dụng cụ để bị cáo sử dụng ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu xanh quản lý của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không nhận lại, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người nam giới khoảng 45 tuổi, không biết tuổi, địa chỉ tại khu vực đường N, phường B1, thành phố T nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nguyên S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Nguyên S 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định là 5,4384 gam trong phong bì niêm phong số 486/KL-KTHS(MT) ngày 26/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và chiếc bình sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa.
3.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu xanh đã quản lý của bị cáo.
(Vật chứng Công an thành phố Thái Bình đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 02/3/2022).
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/3/2023)./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án ND tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát ND TP Thái Bình; - Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình; - Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bỉnh/ Nhà tạm giữ Công an TP Thái Bình; - Chi cục THADS TP Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Tuyết |