- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đức V - CĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tạ Việt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Trương Phúc L và Dương Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày: 01 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ- TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Mạnh Hùng.
2. Bà Mai Tường Vi.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Kim Uyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đào Thế Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST- HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST- HS ngày 16/02/2023, đối với các bị cáo:
1. Tạ Việt T - Tên gọi khác: không; sinh ngày 23 tháng 02 năm 1989, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Nơi thường trú: tổ 54, khu 5, phường Cẩm P, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: tổ 7, khu 1, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Hữu T và bà: Bùi Thị D; có vợ: Võ Thị Như Q (đã ly hôn) và con: có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 11/11/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố Cẩm Phả), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 18 ngày, về tội “Đánh bạc”; ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 27 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 24/4/2018 chấp hàng xong bản án. Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 18/9/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
2. Trương Phúc L - Tên gọi khác: không; sinh ngày 11 tháng 02 năm 2000, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ 5, khu 6, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Phúc V và bà: Trần Thị T; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/9/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
3. Dương Đức V - Tên gọi khác: không; sinh ngày 11 tháng 6 năm 1993, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ 86, khu 7A, phường Cẩm P, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty Cổ phần than Cao S- TKV; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Đức L và bà: Trần Thị P; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/9/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: chị Vũ Thu H, sinh năm 2000. Vắng mặt.
Người chứng kiến: ông Diệp Quý K, sinh năm 1952, anh Vũ Đức V, sinh năm 1993. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 18/9/2022, tại tổ 1, khu Trung S 2, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Dương Đức V và Trương Phúc L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: thu tại tay trái của Dương Đức V 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Thu tại tay trái của Trương Phúc L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 14U1- 395.71.
Dương Đức V và Trương Phúc L khai nhận: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/9/2022, Trương Phúc L nhận được điện thoại của L (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ gọi cho T1 mua ma túy về sử dụng, L1 bảo với Phúc L hỏi mua được ma túy thì đến gặp L1 lấy tiền mua ma túy. Sau đó, Phúc L đã điện thoại cho T1 hỏi mua ma túy. T1 gọi điện thoại rủ V mua ma túy để sử dụng cùng, V đồng ý. V điện thoại cho Tạ Việt T hỏi mua 500.000 đồng ma túy, T đồng ý và hẹn V đến nhà trọ của T thuộc tổ 7, khu 1, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả để giao dịch. Đến 14 giờ cùng ngày, Trương Phúc L điện thoại cho T1 thì T1 nói không tham gia nữa và bảo liên hệ với V, nên Phúc L điện thoại rồi đi đón V. Phúc L điều khiển xe mô tô, biển số 14U1- 395.71 đi đến quán nước thuộc phường Cẩm Sơn gặp L1 và một người đàn ông không quen biết thì người này đưa cho L1 500.000 đồng để mua ma túy. Phúc L điều khiển xe mô tô chở L1 đi đón V rồi quay lại quán nước để L1 ngồi chờ. Trên đường đi, Phúc L đưa 500.000 đồng cho V cầm, rồi cả hai đi đến chỗ hẹn gặp T. Lúc này, Phúc L đứng chờ, còn V đi gặp T mua được 01 gói ma túy giá 500.000 đồng nhưng nợ T 200.000 đồng. Trên đường đi về thì V vào quán tạp hóa của chị Vũ Thu H tại tổ 19, khu 2A, phường Cẩm P, thành phố Cẩm Phả, nhờ chị H chuyển 200.000 đồng còn lại vào tài khoản ngân hàng SHB của V, để V trả nợ cho bạn. Khi V và Phúc L mang số ma túy trên đi đến khu vực tổ 1, khu Trung S 2, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.
Căn cứ lời khai của Trương Phúc L, Dương Đức V, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm Phả tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tạ Việt T, thu giữ: tại túi quần bên trái của T đang mặc 03 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2, M3, M4); tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và số tiền 300.000 đồng (tiền bán ma túy cho Việt).
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, tại tổ 7, khu 1, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ: tại tủ nhựa 10 vỏ túi nilon kích thước (2x2,8)cm và 01 đoạn ống hút nhựa dài 7,7cm, một đầu vót nhọn, một đầu quấn băng dính đen.
Tại Bản kết luận giám định số 1556/KL- KTHH ngày 26/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Dương Đức V (kí hiệu M1) và chất tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon thu giữ của Tạ Việt T (kí hiệu M2, M3, M4) đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: M1: 0,228 gam; M2: 0,176 gam; M3: 0,146 gam; M4: 0,449 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Tạ Việt T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai của Dương Đức V và Trương Phúc L như đã nêu trên. T còn khai: Nguồn gốc 03 túi ma túy bị thu giữ và túi ma túy bản cho V là T mua cua người đàn ông tên T2 “Thỏ” (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực cầu Thảo L, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả với giá 2.500.000 đồng vào tối ngày 17/9/2022, mục đích để bán.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT- VKSCP ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Tạ Việt T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Trương Phúc L và Dương Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo Trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tạ Việt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Trương Phúc L và Dương Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: bị cáo Tạ Việt T từ 30 (Ba mươi) tháng tù đến 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt:
- bị cáo Trương Phúc L từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.
- bị cáo Dương Đức V từ 13 (Mười ba) tháng tù đến 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng của vụ án.
Các bị cáo Tạ Việt T, Dương Đức Vvà Trương Phúc L thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng chị Vũ Thu H và người chứng kiến ông Diệp Quý K, anh Vũ Đức V trong quá trình điều tra đều có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ được phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo, qua tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo Tạ Việt T, Dương Đức V và Trương Phúc L đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã nêu. Các bị cáo khẳng định lời khai nhận của mình trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là đúng sự thật. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với kết luận giám định ma túy và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/9/2022, tại khu vực thuộc tổ 7, khu 1, phường Cẩm T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tạ Việt T đã có hành vi bán trái phép 0,228 gam ma túy, loại Methamphetamine, với giá 500.000 đồng cho Dương Đức V để V và Trương Phúc L sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, tại tổ 1, khu Trung S 2, phường Cẩm S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Dương Đức V và Trương Phúc L đang tàng trữ trái phép số ma túy nêu trên thì bị Công an thành phố Cẩm Phả kiểm tra, phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng. Ngoài ra, Tạ Việt T còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,771 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để bán.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Trong đó, bị cáo Tạ Việt T đã bán trái phép chất ma túy nên đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Dương Đức V, Trương Phúc L cùng nhau đi mua, tàng trữ ma túy để sử dụng nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 14/CT- VKSCP ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nghiện độc hại, làm cho người nghiện ma túy không còn khả năng làm chủ bản thân, lệ thuộc ma túy về mặt thể chất. Biết và nhận thức được tác hại của ma túy, sự nghiêm cấm của Nhà nước nhưng chỉ vì thiếu ý thức chấp hành pháp luật, ham ăn chơi và mong muốn thu lời bất chính nên các bị cáo bất chấp điều đó, mua bán trái phép chất ma túy nhằm kiếm lời và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển. Hành vi phạm tội của các bị cáo tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai là cần thiết, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng trực tiếp, tham gia thực hiện tội phạm. Trong đó, bị cáo Tạ Việt T thực hiện tội phạm độc lập, ngoài hành vi bán ma túy cho V, còn cất giấu trái phép chất ma túy nhằm bán lại cho đối tượng khác nên phải chịu tránh nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Trương Phúc L và Dương Đức V phạm tội có tính chất đồng phạm với nhau, cụ thể: bị cáo L là người khởi xướng, chủ động liên lạc với V, chuẩn bị tiền cùng với V tìm mua và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng. Do đó, bị cáo L có vai trò cao hơn bị cáo V, nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo L phải cao hơn bị cáo V.
Về nhân thân của các bị cáo: bị cáo Tạ Việt T là đối tượng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý về mặt hình sự nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại đi vào con đường phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: các bị cáo Tạ Việt T và Trương Phúc L đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; bị cáo Dương Đức V là lao động có thu nhập thấp. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ, gồm:
- 0,79 (không phẩy bảy chín) gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và Vỏ bao gói đã được niêm phong theo đúng quy định; 10 (mười) Vỏ túi nilon; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu hồng. Đây là vật chứng, chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Tạ Việt T); 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng trắng, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Dương Đức V); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, kèm 02 sim (thu giữ của bị cáo Trương Phúc L). Đây là vật chứng liên quan đến vụ án nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền liên quan đến vụ án nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 14U1- 395.71. Đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Trương Phúc L, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Tạ Việt T). Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo T, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- Bị cáo Dương Đức V cầm của Trương Phúc L số tiền 500.000 đồng để mua ma túy, nhưng khi mua ma túy của Tạ Việt T, bị cáo V mới trả cho T số tiền 300.000 đồng, còn giữ lại 200.000 đồng. Đây là tiền liên quan đến việc phạm tội, nên phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước của V số tiền 200.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án:
- Đối với đối tượng L1 và người đàn ông đi cùng L1, theo Trương Phúc L khai là người rủ và đưa tiền cho Phúc L để đi mua ma túy sử dụng; đối tượng T3 “Thỏ”, theo T khai là người bán ma túy cho T. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
- Đối với T, qua điều tra xác định là Khuất Trung T2 (sinh năm 1987, nơi cứ trú: tổ 2, khu Diêm T, phường Cẩm B, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh). Nhưng hiện T2 vắng mặt tại nơi cư trú, không rõ đang ở đâu, nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Tạ Việt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Trương Phúc L và Dương Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tạ Việt T: 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/9/2022.
- Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Phúc L 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/9/2022.
Xử phạt bị cáo Dương Đức V 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/9/2022.
Áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,79 (không phẩy bảy chín) gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định; Vỏ bao gói đều đựng trong phong bì niêm phong số 1556/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 10 (mười) Vỏ túi nilon; 01 (một) Đoạn ống hút.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng trắng, máy có nhiều vết trầy xước, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Dương Đức V); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, máy có vết xước, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Tạ Việt T); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, màn hình có vết nứt, kèm 02 sim (thu giữ của bị cáo Trương Phúc L).
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của: bị cáo Dương Đức V số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Trương Phúc L: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 14U1- 395.71, số khung:RLHJA3912KY041586, số máy: JA39E0897628, xe không có chìa khoá, không có gương chiếu hậu, bị xước nhiều chỗ, đã cũ, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Tạ Việt T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, máy nhiều vết xước, kèm 01 sim (thu giữ của bị cáo Tạ Việt T).
(Tình trạng các vật chứng và số tiền trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 85/BB- THA, ngày 03/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).
Buộc các bị cáo Tạ Việt T, Dương Đức V và Trương Phúc L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP Cẩm Phả; - THADS TP Cẩm Phả; - Bị cáo; - CQCSĐT CA TP Cẩm Phả; - CQ THAHS Công an TP Cẩm Phả; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Lưu HS. Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |