vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 23/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: * Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Các mép của niêm phong được dán kín có chữ ký ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, điểm ngón trỏ phải của Hà Thị N và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thị N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày 23-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quyết Thắng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lai và ông Trần Đức Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 31/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Thị N. Giới tính: Nữ.

Sinh ngày 10/8/1985 tại: huyện U, tỉnh Lai Châu.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 0/12. Nghề nghiệp: Trồng trọt.

Nơi cư trú: thôn 3 H, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Tiền án: Có 01 tiền án. Bị Toà án nhân dân huyện B xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tại bản án Hình sự sơ thẩm số 07/2012/HSST ngày 20/3/2012. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương ngày 31/12/2013, đến ngày 16/3/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung. Bị cáo chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Con ông: Hà Văn L và bà: Lò Thị P. Có chồng là Dương Văn L và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.

Bị tạm giữ, tạm giam từ 11/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Lan O - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. (Có mặt)

- Người chứng kiến: Bà Dương Thị X. Địa chỉ: Thôn 3 H, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 11/3/2023, Hà Thị N đang đi bộ trên đường liên thôn thuộc thôn 3 H, xã L, huyện B thì gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là C (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Công hỏi N “có muốn kiếm tiền không”, N trả lời “có”. C lấy ở trong người ra 02 gói ma tuý được gói bằng nilon màu hồng đưa cho N và bảo cứ đi dọc đường liên thôn đến khu vực ngã ba sẽ có người đến nhận ma tuý và trả tiền mua ma tuý là 20.000.000 đồng. Xong việc về C sẽ trả cho N 500.000 đồng tiền công, N đồng ý. N nhận ma tuý cầm ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra ngã ba đầu đường liên thôn 3 H, xã L chờ người mua ma tuý đến để giao ma tuý thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số: 81 ngày 15/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 57,82 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại ma tuý Heroine (Hêrôin).

Cáo trạng số 28/CT-VKS-P1 ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Hà Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hà Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai bổ sung Cáo trạng truy tố bị cáo Hà Thị N thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thị N phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Thị N từ 16 đến 17 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng và tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Thị N trình bày quan điểm: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Thị N 15 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở khẳng định:

Do hám lời nên ngày 11/3/2023 bị cáo Hà Thị N đã vận chuyển trái phép 57,82 gam Heroine cho một người đàn ông tên Công mang đi bán, để nhận 500.000 đồng tiền công. Hành vi của Hà Thị N đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Heroine có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 28/CT-VKS-P1 ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Hà Thị N là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng và tác động xấu đến trật tự trị an xã hội ở địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét thấy, bị cáo Hà Thị N có nhân thân xấu. Ngày 20/3/2012 bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện B xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2012/HSST nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Ngày 31/12/2013, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính của Bản án số 07/2012/HSST. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 17/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B, đến ngày 16/3/2023 bị cáo Hà Thị N mới thi hành xong các khoản tiền phạt bổ sung, án phí và các khoản tiền khác theo bản án. Tính đến thời điểm phạm tội ngày 11/3/2023 bị cáo chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để phát huy tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 15 năm tù là nhẹ, không tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; không có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm nên không được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 17/3/2023, bị cáo Hà Thị N không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về một số đối tượng liên quan và những vấn đề khác trong vụ án:

Đối với nguồn gốc ma tuý và người đàn ông tên Công: Bị cáo khai số ma tuý bị Cơ quan điều tra thu giữ là của người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,6 m, mặc áo khoác màu đen tự giới thiệu tên là Công, N không biết nhà ở đâu, ngoài ra không có thông tin, tài liệu nào khác.

Đối với người mua ma tuý: Bị cáo khai Công bảo N mang số ma tuý đến ngã ba đầu đường liên thôn 3 Minh Hạ, xã Minh Lương sẽ có người ra nhận ma tuý và trả số tiền 20.000.000 đồng mua ma tuý. Ngoài ra không có thông tin, tài liệu nào khác.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai không đủ căn cứ để điều tra, làm rõ về người đàn ông tên Công, nguồn gốc số ma tuý và người mua ma tuý của Hà Thị N. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý là phù hợp.

Về vật chứng:

- Đối với 56,85 gam ma túy còn lại sau trích mẫu giám định: đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo: Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số (Tày), sinh sống ở thôn 3 Minh Hạ, xã Minh Lương, huyện B, tỉnh Lào Cai – là thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hà Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm b khoản 3 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Thị N 16 (Mười sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2023.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Các mép của niêm phong được dán kín có chữ ký ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, điểm ngón trỏ phải của Hà Thị N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Hà Thị N ngày 11/3/2023 tại xã Minh Lương, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Bên trong có chứa 56,85 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định. Niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định.

* Trả lại cho bị cáo Hà Thị N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, không mở được mật khẩu máy nên không kiểm tra chất lượng máy bên trong;

(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng số 51 ngày 29/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo Hà Thị N.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự ”.

Cỡ chữ