vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 10/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cháng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 105,28 gam Heroine và 5,58 gam Methamphetamine là chất ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định và 01 đèn pin đội đầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cháng A S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cháng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày: 10-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khanh.

Thẩm phán: Ông Lò Văn Lịch.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Xà

Bà Đỗ Thị Luyến

Bà Hà Thị Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 19/01/2023 đối với bị cáo:

Cháng A S (tên gọi khác: Không) sinh ngày 09/10/1991, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cháng A V (đã chết), con bà Giàng Thị S, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Thào Thị M, sinh năm 1993 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/10/2022, tạm giam từ ngày 22/10/2022 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Cháng A S: Ông Nguyễn Trần Dễ, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Thào Thị M, sinh: 1993; Địa chỉ: Bản Huổi Thủng 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Đình Hải Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 19/10/2022, Cháng A S sang nhà Giàng A Ký cùng trú tại bản Huổi Thủng 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, qua trao đổi Ký gửi tiền 3.000.000 đồng nhờ S đi mua hộ Heroine về để Ký sử dụng và bán, S đồng ý. Khoảng 19 giờ ngày 19/10/2022, S mang theo số tiền 7.500.000 đồng đi mua ma túy, trong đó có 3.000.000 đồng tiền của Ký và 4.500.000 đồng tiền của S, điều khiển xe máy đi đến khu vực bản Huổi Po, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, S gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở cạnh đường, S mượn điện thoại của người phụ nữ để gọi điện thoại cho người bán ma túy mà Hờ A Chứ ở bản Huổi Po, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên cho số điện thoại từ trước, S đặt mua Heroine với số tiền 7.500.000 đồng, người bán hẹn gặp S tại khu vực bản Huổi Sang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên để trao đổi mua bán. Khoảng 23 giờ cùng ngày, S đi đến khu vực bản Huổi Sang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên và để xe máy ở cạnh đường, tiếp tục đi bộ khoảng 30 phút thì gặp một người đàn ông ở trong lán nương, S không biết tên, địa chỉ, S mua của người đàn ông này 01 gói Heroine với giá 7.500.000 đồng, người đàn ông còn cho thêm S 01 gói Methamphetamine. S cất ma túy vào túi áo đang mặc trên người rồi đi bộ đến chỗ để xe, lấy xe máy đi về. Khoảng 03 giờ, ngày 20/10/2022 S đi về đến khu vực bản Huổi Sang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Nà Hỳ, phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Đồn biên phòng Na Cô Sa kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 gói chất bột màu trắng và 01 gói có các viên nén màu hồng.

Tại bản Kết luận giám định số 1396/KL-KTHS ngày 29/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Cháng A S gồm 107,92 gam chất bột màu trắng; 5,88 gam các viên nén màu hồng.

- 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cháng A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

- Mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cháng A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 05/CT-VKSTĐB-P1, ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố Cháng A S để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cháng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cháng A S 20 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 105,28 gam Heroine và 5,58 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, 01 đèn pin đội đầu loại có dây đeo màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Cháng A S.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: ½ giá trị chiếc xe máy hiệu HONDA, loại Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 27B1-998.93, số khung RLHJC4629BY233766, số máy JC43E-6163744, xe đã qua sử dụng; trả lại cho chị Thào Thị Máy ½ giá trị chiếc xe máy trên.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cháng A S.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo là lao động chính và phạm tội lần đầu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Cháng A S và áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội; trả lại cho chị Thào Thị Máy chiếc xe máy. Bị cáo không bổ sung thêm bài bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng bị cáo Cháng A S thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội được trở về với vợ con và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 20/10/2022 bị cáo bị tổ công tác Đồn biên phòng Nà Hỳ, phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Đồn biên phòng Na Cô Sa bắt quả tang về hành vi vận chuyển trái phép 5,88 gam Methamphetamine và 107,92 gam Heroine (với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời), tại khu vực bản Huổi Sang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 42-43); biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 44); kết luận giám định (BL 50) và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để xác định ngày 20/10/2022 bị cáo Cháng A S đã có hành vi mua bán trái phép 107,92 gam Heroine và 5,88 gam Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

… h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.”

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Cáo trạng số 05/CT-VKSTĐB-P1, ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Xét hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác, ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc hình phạt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo; bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế; điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị của người bào chữa là có căn cứ để chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và các quy định của pháp luật. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích bán kiếm lời, tuy đã được các cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời; nhưng khối lượng chất ma túy mà bị cáo trao đổi mua bán trái phép lớn, nếu không được các cơ quan chức năng ngăn chặn kịp thời thì hậu quả mà bị cáo gây ra cho xã hội là rất nghiêm trọng, biết bao nhiêu gia đình phải tan vỡ, nghèo nàn vì tệ nạn ma túy gây ra; do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để trừng trị bị cáo và làm bài học, cảnh báo chung cho toàn xã hội, đảm bảo sự trừng phạt đối với người phạm tội; răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp chính của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, đi làm thuê, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn; nếu có áp dụng thì bị cáo cũng không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo là có căn cứ để chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn biên phòng Nà Hỳ, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên, Đồn biên phòng Na Cô Sa, Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 105,28 gam Heroine và 5,58 gam Methamphetamine là chất ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, 01 đèn pin đội đầu; là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe máy hiệu HONDA, loại Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 27B1-998.93, số khung RLHJC4329BY233766, số máy JC43E-6163744, xe đã qua sử dụng, là tài sản chung của bị cáo với chị Thào Thị Máy, do vậy cần tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy sung ngân sách nhà nước và trả lại cho chị Thào Thị Máy ½ giá trị chiếc xe máy nêu trên.

Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các vấn đề khác:

Theo lời khai của bị cáo, Giàng A Ký là người đưa tiền cho bị cáo đi mua hộ ma túy. Qua điều tra chưa có căn cứ chứng minh Ký có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị can và người phụ nữ cho bị can mượn điện thoại để liên lạc mua bán ma túy, do bị cáo không biết rõ nhân thân, lai lịch của họ ở đâu, nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Theo lời khai của bị cáo, thì Hờ A Chứ là người cho bị cáo số điện thoại của người đàn ông bán ma túy, qua điều tra chưa có căn cứ chứng minh Chứ có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Cháng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cháng A S 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 105,28 gam Heroine và 5,58 gam Methamphetamine là chất ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định và 01 đèn pin đội đầu.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: ½ giá trị chiếc xe máy hiệu HONDA, loại Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 27B1-998.93, số khung RLHJC4329BY233766, số máy JC43E-6163744, xe đã qua sử dụng.

- Trả lại cho chị Thào Thị Máy (vợ bị cáo) ½ giá trị chiếc xe máy nêu trên.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 23/12/2022 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cháng A S.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Cháng A S có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2023)./.

Cỡ chữ