vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 04/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Lò Văn T 03 (ba) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-12-2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 40/2023/HSST tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày 04-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn H1.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đ và bà Hoàng Thị T1.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tân H2 – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị T2 – Kiểm sát viên.

Ngày 04-5-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 03-4-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS ngày 20-4-2023 đối với bị cáo:

Lò Văn T, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: huyện T3, tỉnh Đ1; Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: bản H3, xã N, huyện T3, tỉnh Đ1; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Con ông: Lò Văn T4 và bà Lò Thị B; Có vợ là: Lường Thị M, sinh năm 1994; Có 01 con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ ngày 29-12-2022 và tạm giam ngày 01-01-2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam của Công an tỉnh H. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Huy H4 – Luật sư thực hiện Hợp đồng trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt

- Người làm chứng:

1. Anh Trịnh Quang P, sinh năm 1994;

2. Anh Trịnh Văn H5, sinh năm 1983;

Đều trú tại: thôn E, xã N1, huyện V, tỉnh H. Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 29-12-2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vcùng Công an xã N1 đã tiến hành kiểm tra tại khu nghĩa trang thôn E, xã N1, huyện V, tỉnh H, phát hiện Lò Văn T, sinh năm 1989, HKTT: Bản H3, xã N, huyện T3, tỉnh Đ1 đang cất giấu trái phép chất ma túy. Khi bị kiểm tra, T đã bỏ chạy khoảng 100m, cởi chiếc áo khoác đang mặc vứt ra bể nước rồi tiếp tục trèo lên tường để bỏ chạy thì bị bắt giữ. Lực lượng Công an đã đưa T đến kiểm tra chiếc áo khoác T vừa vứt ra thì phát hiện tại túi phía ngoài, bên trái của chiếc áo khoác đó có 01 túi nilon có khóa bóp màu xanh, kích thước (7x11,5)cm, bên trong có 33 gói nilon nhỏ màu xanh, đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột, tiến hành niêm phong trong phong bì ký hiệu M1. T khai nhận số ma túy trên T cất giấu để mang đi bán cho người khác nhưng chưa bán được cho ai.

Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã gửi các chất thu giữ được của T trong niêm phong ký hiệu M1 đi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 71KL-KTHS(MT) ngày 01-01-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu là M1 có tổng khối lượng là 1,354 gam là ma túy, loại Heroin.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của T xác định trong máu dương tính với chất ma túy.

Quá trình điều tra xác định được: T là người thường xuyên sử dụng chất ma túy. Ngày 28-12-2022, T đang ở lán trọ thuê của bà Nguyễn Thị Tọa, sinh năm 1964 tại thôn E, xã N1 thì có một người tên H6 (không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, là công nhân trong công trường khu đô thị sinh thái Dream City trước đó T đã gặp 1-2 lần) đi đến nhờ bán hộ ma túy để H6 lấy tiền đi về quê, nếu bán được 10 tép ma túy thì sẽ được H6 cho 01 tép ma túy để sử dụng, giá mỗi tép là 100.000 đồng nên T đồng ý. H6 đưa cho T 01 túi nilon bên trong có 33 tép ma túy nhỏ (là chất màu trắng dạng cục và bột được cho vào mảnh túi nilon màu xanh xoắn và hơ lửa gắn kín lại). T cất túi ma túy vào túi quần dài bên trái, phía trước đang mặc rồi đi ngủ. Đến sáng ngày 29-12-2022, T cùng H6 đi ra nghĩa trang thôn E xã N1 và được H6 cho 1 tép ma túy để sử dụng. Đến trưa cùng ngày, T và Hoàng mang số ma túy trên ra khu vực đường vào nghĩa trang thôn E, xã N1 để bán nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Vvà Công an xã N1 kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. H6 bỏ chạy đi đâu không rõ, T bỏ chạy về khu nhà trọ, vứt áo khoác ra bể nước rồi trèo tường bỏ chạy thì bị Lực lượng Công an bắt giữ.

Đối với đối tượng H6 đưa ma túy cho T sử dụng và nhờ bán hộ, do không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với hành vi T sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 27-3-2023 Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Cáo trạng số: 44/CT-VKSVG ngày 31-3-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo T khẩn khai báo, diễn biến động cơ, mục đích và hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt Lò Văn T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29-12-2022. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy các vật chứng gồm: 1,310g ma túy, loại Heroin, trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 túi ni lon, các mảnh ni lon gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định trong niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 71/KL-KTHS(MT). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo, có quan điểm: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, hành vi của bị cáo đã rõ ràng; đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo là người dân tộc Thái nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất như đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo đồng ý với lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhân tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, được chứng minh bằng các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Sơ đồ; Bản ảnh; Kết luận giám định; lời khai của bị cáo; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 29-12-2022, tại khu vực Nghĩa trang thôn E, xã N1, huyện V, tỉnh H; Lò Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người là 1,354g ma túy, loại Heroin, với mục đích để bán thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Vvà Công an xã N1 phát hiện, bắt giữ. Do vậy, hành vi của Lò Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vđã truy tố T theo tội danh và điều luật thể hiện trong Cáo trạng số 44/CT-VKSVG ngày 31-3-2023 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, bị cáo hiểu được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, hiểu được tệ nạn ma túy đang là mối quan tâm nhức nhối của toàn xã hội nhưng vì lợi nhuận, bị cáo cố ý thực hiện hành vi bán ma túy để kiếm lời nên bị cáo phải chịu mức án tương xướng với hành vi phạm tội của mình.

. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên thấy cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo T công dân có ích cho gia đình, xã hội.

. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản riêng, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, vật chứng được xử lý như sau:

- Cơ quan Công an đã thu giữ của Lò Văn T 1,354g ma túy, loại Heroin, sau khi gửi đi giám định trọng lượng còn hoàn lại: 1,310g ma túy, Heroin là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Các mảnh ni lon gói ma túy, 01 túi ni lon và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định là công cụ dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

(Tình trạng, số lượng, chủng loại, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06-4-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vvới Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh H)

. Về án phí: Gia đình bị cáo Lò Văn T thuộc hộ nghèo nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án và Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Lò Văn T 03 (ba) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29-12-2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 1,310g ma túy, loại Heroin, trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 túi ni lon, các mảnh ni lon gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định trong niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 71/KL-KTHS(MT).

(Tình trạng, số lượng, chủng loại, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06-4-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vvới Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh H)

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04-5-2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ