- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L V Th 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày 27-4-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vi Văn Dương
Bà Lô Thị Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: L V Th, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 22 tháng 12 năm 1992 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản L, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L Đ S và con bà Kh Th Ng; vợ: con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 11/8/2021 bị Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo bản án số 57/2021/HS-ST ngày 11/8/2021, ngày 28/4/2022 chấp hành xong hình phạt về địa phương nhưng chưa được xoá án tích; Nhân thân: Ngày 30/5/2016 bị Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 54/2016/HS-ST ngày 30/4/2016, ngày 16/3/2017 chấp hành xong hình phạt về địa phương và đã chấp hành xong các khoản của bản án tuyên. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 12 năm 2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông L Đ S, sinh năm 1952. Trú tại: Bản L, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Thắng. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10/12/2022 L V Th, một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu NOUVO FI, mang biển kiểm soát 37D1-049.15 đi từ nhà ở bản L, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An đến khu vực bản Đ, xã L M, huyện T D, tỉnh Nghệ An mục đích tìm mua ma tuý sử dụng. Đến khu vực bản Đ Th dừng xe bên đường rồi đi bộ lên đồi thì gặp một người đàn ông đang ở trong rừng, Th đi lại gần bắt chuyện thì người đàn ông tự giới thiệu tên Tài (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể), Th hỏi mua của người đàn ông tên Tài này 01 gói ma tuý Heroin gói bằng mảnh giấy màu vàng với giá 100.000đ. Mua được ma tuý Th mở gói ma tuý mua được ra lấy một ít ma tuý sử dụng ngay tại chỗ; số ma tuý còn lại Th gói lại như ban đầu rồi cất gói ma tuý trong túi áo khoác của Th đang mặc rồi đi xuống đồi lấy xe máy điều khiển về. Trên đường về Th gặp Nguyễn Văn Thắng xin đi nhờ xe máy, Th đồng ý chở Thắng cùng đi về. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi L V Th điều khiển xe máy chở Thắng đến khu vực bản Cửa Rào 1, xã X L, huyện T D thì gặp tổ công tác Công an xã X L, huyện T D đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra Công an phát hiện thu giữ trong túi áo khoác phía bên trái của Th đang mặc 01 gói bằng mảnh giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng, Th khai gói giấy chứa chất bột màu trắng là Heroin của Th mua về để sử dụng. Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý phạm tội quả tang; niêm phong vật chứng, đưa người và vật chứng đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D để điều tra làm rõ; đồng thời tạm giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu NOUVO FI, mang biển kiểm soát 37D1-049.15 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Kết luận giám định số 1403/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 18/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của L V Th gửi đến giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,11g (không phẩy mười một gam).
Bản Cáo trạng số 33/CT-VKS-TD ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố L V Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: L V Th mức án từ 01 năm 4 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vỏ giấy niêm phong cũ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại chiếc xe máy nên không yêu cầu bồi thường.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L V Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 10/12/2022 tại khu vực bản Cửa Rào 1, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An, Công an xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An đang làm nhiệm vụ thì phát hiện bắt quả tang L V Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,11g ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông tên Tài đã bán ma tuý cho Th, do Th không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với Ng V Th là người xin đi nhờ xe máy của L V Th nhưng Th không biết Th tàng trữ ma tuý, khi Công an kiểm tra phát hiện Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý lúc đó Th mới biết. Do vậy không có căn cứ để xử lý Thắng về hình sự.
Xử lý vật chứng: 0,11g Heroine (đã lấy hết đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L V Th 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/12/2022.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14.3.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo L V Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 27/4/2023.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - UBND xã X L; - Bị cáo, Trại tạm giam; - Người CQLVNVLQ; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |