- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng A Chúng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tráng A Ch phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày: 01/3/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Anh; Nguyễn Thị Khánh Ly.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 01/3/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2023/TLST-HS, ngày 18/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 16/02/2023 đối với bị cáo:
Tráng A Ch - Sinh ngày 01/01/1985 tại huyện T U, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản M N, xã H M, huyện T U, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tráng A S (đã chết) và bà: Lù Thị M – sinh năm 1950; Gia đình có 6 chị, em bị cáo là con thứ năm; Bị cáo có vợ: Lù Thị X – sinh năm 1982; Bị cáo có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga; Bà Nông Thị Minh Hạnh – Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 06/12/2022, Tráng A Ch một mình đi bộ từ nhà tại bản M N, xã H M, huyện T U đến bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên để tìm mua Heroine sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Ch mua từ một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 30.000 đồng, mục đích: để sử dụng. Sau khi mua xong, Ch cầm gói Heroine trên tay và đi bộ về nhà. Đến hồi 18 giờ 10 phút cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, Tráng A Ch gặp lực lượng Công an huyện Than Uyên đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Do sợ hãi, Ch đã thả gói Heroine đang cầm trên tay xuống đường nhưng bị lực lượng Công an phát hiện. Sau đó, Ch đã tự giác nhặt gói Heroine lên giao nộp cho lực lượng Công an huyện. Vật chứng thu giữ của Tráng A Ch 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng nilon màu xanh.
Tại Kết luận giám định số 138 ngày 06/12/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Than Uyên và Kết luận giám định số 928/KL-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Tráng A Ch là 0,41 gam, là ma túy, loại: Heroine.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,41 gam Heroine thu giữ của Tráng A Ch, đã trích 0,17 gam gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật; còn lại: 0,24 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 14/CT –VKS, ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Tráng A Ch về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tráng A Ch phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Tráng A Ch từ 18 đến 24 tháng tù.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Tráng A Ch không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Về quy trình tố tụng cũng như căn cứ pháp luật mà vị đại diện Kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo, người bào chữa hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên mức hình phạt là quá cao vì: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chưa có tiền án, tiền sự, sự nhận thức về pháp luật và xã hội còn hạn chế, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo tự cải tạo mình và sớm hòa nhập cộng đồng, xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng với mức hình phạt đề nghị trên là phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình, xã hội và xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa và bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 06/12/2022, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Tráng A Ch đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người không rõ lai lịch với giá 30.000 đồng, mục đích để sử dụng. Hồi 18 giờ 10 phút cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, Tráng A Ch bị Công an huyện Than Uyên bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,41 gam. Hành vi nêu trên của bị cáo Tráng A Ch đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 – Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị củaViện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ mọi điều kiện để biết rằng: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với người nào có một trong những hành vi liên quan đến chất ma túy. Nhưng với lối sống buông thả, ăn chơi, đua đòi, coi thường pháp luật. Do nghiện chất ma túy ngày 06/12/2022 bị cáo cố ý thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,41 gam nhằm mục đích để sử dụng cho nhu cầu thấp hèn của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội, đây cũng là căn cứ, lý do không được Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa về việc giảm mức hình phạt cho bị cáo.
Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Tráng A Ch đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện , bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo còn đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Tráng A Ch khai mua của một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tráng A Ch là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí, nên cần chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106; 135;136; 331; 333 – Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tráng A Ch phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tráng A Ch 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/12/2022.
3. Về vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 30/01/2023).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tráng A Ch.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Than Uyên. - VKSND tỉnh Lai Châu. - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. - Bị cáo; Người bào chữa. - CA huyện Than Uyên. - CQTHAHS huyện Than Uyên. - Chi cục THADS huyện Than Uyên. - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Xuân Thu |