- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giáp Văn Tới - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật: Căn cứ điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 40/2023/HS-ST Ngày 18/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Kiểm
2. Ông Nguyễn Lâm Giang
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Giáp Văn T1; Sinh năm: 1983; Tên gọi khác: Không có;
- Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có;
- Họ và tên cha: Giáp Văn T, sinh năm 1956, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956 (đều đã chết); Vợ: Thân Thị Th, sinh năm 1983; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2021;
- Tiền án:
+ Bản án hình sự sơ thẩm 01/2010/HSST ngày 05/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (thực hiện hành vi phạm tội ngày 15/7/2009, tài sản trộm cắp trị giá 9.000.000 đồng);
+ Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2010/HSPT ngày 02/03/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Thực hiện hành vi phạm tội ngày 07/8/2009; tài sản trộm cắp trị giá 11.000.000đ); Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2012;
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2014/HS-ST ngày 19/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 8 năm tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2020 (Bản án này xác định Giáp Văn T1 phạm tội trong trường hợp tái phạm).
- Nhân thân:
+ Bản án số 46/2003/HSST ngày 27/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 19/6/2014, bị Công an huyện Tân Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”;
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Yên. (có mặt tại phiên tòa).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chị Thân Thị Th, sinh năm 1983 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Chị Tạ Thị HT1, sinh năm 1988 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Thành Chung, thị trấn Phồn XT1, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
+ Người làm chứng.
Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1986 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Anh Ngô Ngọc L, sinh năm 1974 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 09 giờ ngày 07/12/2022, Giáp Văn T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98-B2 380.12 đi từ nhà lên khu vực thị trấn N, huyện Tân Yên để mua ma túy về sử dụng. Khi đến gần thị trấn Nhã Nam, T1 gọi điện thoại cho người tên T (T1 mới quen, không biết năm sinh, địa chỉ của T ) hỏi mua ma túy thì T đồng ý và hẹn gặp tại ngõ đối diện bến xe Nhã Nam. Khi đến đoạn đường gần cây xăng thị trấn N, T1 rẽ vào đường thuộc tổ dân phố T gần khu vực cổng trường mầm non thì thấy T đỗ xe rìa đường. T hỏi “tiền đâu”, T1 không nói gì đồng thời lấy số tiền 3.000.000 đồng đưa cho T. T cầm tiền xong đưa cho T1 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WHITE HORSE”, T1 biết bên trong bao thuốc là ma túy Heroine nên cầm gói ma túy ở tay trái sau đó điều khiển xe đi. Khi vừa đi được khoảng 200 mét thì gặp tổ công tác Công an huyện Tân Yên đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc tổ dân phố Tân Quang, thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên thì phát hiện Giáp Văn T1, điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, Giáp Văn T1 xuống xe bỏ chạy, tổ công tác đuổi theo, T1 cho tay trái vào túi áo khoác bên trái đang mặc rút ra 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WHITE HORSE” thả xuống mặt đường bê tông thì bị tổ công tác khống chế, vỏ bao thuốc lá rơi xuống mặt đường sát vị trí T1 bị khống chế .Tổ công tác tiến hành kiểm tra vỏ bao thuốc lá thì xác định vỏ bao thuốc nhãn hiệu “WHITE HORSE” đã bị xé mất phần nắp, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng được quấn lại bằng dây chun nịt, bên trong gói giấy có 01 (một) túi nilon màu trắng đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine. Tổ công tác tiến hành niêm phong tại chỗ số vật chứng nêu trên, sau đó đưa đối tượng cùng vật chứng về trụ sở UBND thị trấn N để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:
- Thu giữ tại mặt đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn N, huyện Tân Yên: 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WHITE HORSE” bị mất phần nắp đậy, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng được quấn lại bằng dây chun nịt, bên trong gói giấy có 01 (một) túi nilon màu trắng đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.
- Thu giữ của Giáp Văn T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh, bạc đã qua sử dụng, bên ngoài dán decan màu đen - trắng, biển kiểm soát 98B2- 380.12, số máy: G3D4E072490; số khung: 0610FY064188 (xe đã tiến hành kiểm tra bên trong, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan).
- Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải Giáp Văn T1 đang mặc: 01 (một) ví da màu nâu, bên trong có:
+ Số tiền 3.680.000 đồng (ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
+ 01 (một) chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 039866 mang tên Nguyễn Bá H, biển số đăng ký: 98B2-380.12.
+ 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0020322, mang tên Trương Thị T, đăng ký biển kiểm soát 99L1-0810.
+ 01 (một) giấy phép lái xe số 240220001342 mang tên Giáp Văn T1, sinh năm 1983, nơi cư trú: xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
+ 01 (một) giấy phép lái xe số H048152 mang tên Giáp Văn T1, sinh năm 1983, nơi cư trú: N, V, Tân Yên, Bắc Giang.
+ 01 Căn cước công dân số 024083003466 mang tên Giáp Văn T1, sinh năm 1983, nơi thường trú: V - T - Bắc Giang.
+ 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng Quân đội, số thẻ: 9704222073217531 mang tên “THAN THI THUY”.
+ 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank, số thẻ: 4524041824459922 mang tên “GIAP VAN TOI”.
- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Giáp Văn T1 đang mặc: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI: 868683044990079, lắp sim số: 0398.167.383 và 0565.159.722.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Giáp Văn T1 tại thôn N, xã V, huyện Tân Yên đã phát hiện và thu giữ 01 túi bột màu trắng (được để trong 01 túi xách da màu đen, treo trước cửa nhà Giáp Văn T1), được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng dán kín, có chữ ký của những người tham gia và dấu của Công an xã V, huyện Tân Yên
Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã test nhanh ma túy đối với Giáp Văn T1, kết quả T1 dT1 tính với ma túy Heroine .
Ngày 07/12/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” và chất cục bột màu trắng thu giữ khi khám xét được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng dán kín, có chữ ký của những người tham gia và dấu của Công an xã V, huyện Tân Yên có phải là ma túy không, loại ma túy gì, khối lượng bao nhiêu?.
Tại Kết luận giám định số 2280/KL-KTHS ngày 14/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“5.1. Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng, bên ngoài quấn dây chun nịt. Tất cả được đựng trong 01 vỏ bao thuốc là nhãn hiệu “WHITE HORSE” bị xé mất nắp đậy là ma túy, có khối lượng 2,617 gam, loại Heroine.
5.2. Trong 01(một) phong bì đã được niêm phong gửi giám định:
Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng có kích thước (4,5x07)cm được hàn kín không tìm thấy thành phần chất ma túy, có khối lượng 1,213 gam)”.
Ngoài ra, T1 còn khai nhận ngày 06/12/2022, cũng tại gần địa điểm bị bắt quả tang, T1 có mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng của Tú (vẫn là người đã bán ma túy cho T1 vào buổi sáng ngày 07/12/2022) T1 đã sử dụng hết số ma túy này tại nhà vào sáng ngày 07/12/2022.
Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại cáo trạng số 35/CT-VKS, ngày 20/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố Giáp Văn T1 về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2, điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giáp Văn T1 từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/12/2022.
Về hình phạt bổ sung. Bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2-380.12 và chứng nhận đăng ký mô tô mang tên Nguyễn Bá H, biển số đăng ký 98B2-380.12;
+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” có mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 2,514 gam, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 phong bì có: Mẫu chất tinh thể màu trắng không tìm thấy thành phần chất ma túy còn lại sau giám định 1,050 gam, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có kích thước 4,5x07cm; 01 phong bì dán kín, bên ngoài có dấu của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an có chữ ký cùng tên của người tham gia niêm phong, bên trong có: 01 vỏ bao thuốc lá ghi nhãn “WHITE HORSE”; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 túi nilon; 01 dây chun nịt màu vàng; Phần còn lại của mẫu tóc thu của Giáp Văn T1. 01 sim điện thoại số 0398.167.383;
- Trả lại bị cáo: 01 ví da màu nâu; số tiền 3.680.000 đồng; 02 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Giáp Văn T1; 01 thẻ ATM mang tên “GIAP VAN TOI”; sim điện thoại số 0565.159.722, nhưng tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án;
- Trả lại chị Thân Thị Th: 01 thẻ ATM của Ngân hàng Quân đội, số thẻ 9704222073217531 mang tên “THAN THI THUY”.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật:
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1.]Về Tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điều 292; Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.
[2.]Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Giáp Văn T1 đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ có sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/12/2022, tại tổ dân phố T, thị trấn N. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên bắt quả tang Giáp Văn T1, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã V, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Có hành vi tàng trữ trái phép 2,617 gam ma túy Heroin mục đích sử dụng cho bản thân, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có 3 tiền án đến nay chưa được xóa án tích, do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy Cáo trạng số 35/CT-VKS- TY , ngày 20/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo theo quy định tại điểm o, khoản 2, điều 249 Bộ luật hình sự „Về tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phT1. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma tuý đang là một trong những vấn nạn của xã hội, tệ nạn ma túy ngày càng có diễn biến phức tạp, tinh vi hơn, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, suy thoái đạo đức xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố là thT1 binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, tài sản không có, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2-380.12 và chứng nhận đăng ký mô tô mang tên Nguyễn Bá H, biển số đăng ký 98B2-380.12; Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” có mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 2,514 gam, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 phong bì có: Mẫu chất tinh thể màu trắng không tìm thấy thành phần chất ma túy còn lại sau giám định 1,050 gam, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có kích thước 4,5x07cm; 01 phong bì dán kín, bên ngoài có dấu của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an có chữ ký cùng tên của người tham gia niêm phong, bên trong có: 01 vỏ bao thuốc lá ghi nhãn “WHITE HORSE”; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 túi nilon; 01 dây chun nịt màu vàng; Phần còn lại của mẫu tóc thu của Giáp Văn T1. 01 sim điện thoại số 0398.167.383; số ma túy do nhà nước quản lý, cấm lưu hành và những tài sản không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy
- Đối với 01 ví da màu nâu; số tiền 3.680.000 đồng; 02 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Giáp Văn T1; 01 thẻ ATM mang tên “GIAP VAN TOI”; sim điện thoại số 0565.159.722, đây là tài sản các nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo do vậy trả lại cho bị cáo T1 nhưng tạm giữ lại tiền để đảm bảo thi hành án;
- 01 thẻ ATM của Ngân hàng Quân đội, số thẻ 9704222073217531 mang tên “THAN THI THUY”. Đây là tài sản cá nhân chị Thúy cần trả chị Thúy
Về tiền án phí bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định.
- Đối với người bán ma tuý cho T1 do T1 không biết họ, tên đệm, năm sinh và địa chỉ, Cơ quan điều tra không làm rõ được người đàn ông bán ma túy cho T1 là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho T1.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 07/12/2022 của Giáp Văn T1, ngày 24/3/2023 Công an huyện Tân Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về điều luật: Căn cứ điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử Giáp Văn T1 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T1.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a , c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh bạc, bên ngoài dán decan màu đen - trắng biển kiểm soát 98- B2 380.12 xe cũ đã qua sử dụng số khung 0610FY 064188, số máy G3D4E072490; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 039866 mang tên Nguyễn Bá H, biển đăng ký 98B2-380.12. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO mầu đen được niêm phong trong phong bì dán kín có ký kiệu "đt";
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” có mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 2,514 gam, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 phong bì có: Mẫu chất tinh thể màu trắng không tìm thấy thành phần chất ma túy còn lại sau giám định 1,050 gam, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có kích thước 4,5x07cm; 01 phong bì dán kín, bên ngoài có dấu của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an có chữ ký cùng tên của người tham gia niêm phong, bên trong có: 01 vỏ bao thuốc lá ghi nhãn “WHITE HORSE”; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 túi nilon; 01 dây chun nịt màu vàng; Phần còn lại của mẫu tóc thu của Giáp Văn T1. 01 sim điện thoại số 0398.167.383;
- Trả lại bị cáo: 01 ví da màu nâu; số tiền 3.680.000 đồng; 01 giấy phép lái xe số 240220001342 mang tên Giáp Văn T1, sinh năm 1983 nơi cư trú xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; 01 giấy phép lái xe số H048152 mang tên Giáp Văn T1; 01 căn cước công dân số 024083003466 mang tên Giáp Văn T1; 01 thẻ ATM mang tên “GIAP VAN TOI”; sim điện thoại số 0565.159.722, nhưng tạm giữ lại tiền để đảm bảo thi hành án;
- Trả lại chị Thân Thị Th: 01 thẻ ATM của Ngân hàng Quân đội, số thẻ 9704222073217531 mang tên “THAN THI THUY”.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136, điểm a, khoản 2, điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH114, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo đúng quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - T.H.A huyện Tân Yên; - Cơ quan điều tra, cơ quan THAHS Công an huyện Tân Yên. - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao. - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. -Lưu VP, HS./. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Thị Vân Anh |