- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 40/2023/HS-ST Ngày: 23-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Văn Cương.
2. Ông Trần Thành Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Lầu Bá Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 13/11/2023, đối với bị cáo:
Thào A D, tên gọi khác: Không, sinh năm 2005; nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo d c phổ thông: 6/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức v , đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Thào A Chư và con bà: Mùa Thị Sua (đã chết); mẹ kế: Sồng Thị Dua; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Giàng A L, sinh năm 1986.(Chú bị cáo). Nơi cư trú: Bản B, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 26/8/2023, tổ công tác Công an xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La làm nhiệm v tuần tra, kiểm soát ma túy tại khu vực bản B, xã C, huyện Sông Mã, Sơn La thì phát hiện một nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi từ hướng bản B, xuống bản B cùng xã C, huyện Sông Mã, Sơn La có biểu hiện phạm tội về ma túy nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra nam thanh niên khai nhận tên là Thào A D, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Tổ công tác yêu cầu D m cốp xe mô tô để kiểm tra thì phát hiện bên trong cốp xe có 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng, D khai nhận là Hồng phiến mua về để sử d ng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A D. Ngoài ra, tạm giữ của D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLade, màu sơn đen, số khung:022061, số máy: 0885320, biển kiểm soát: 26C1 - 229.45 xe đã qua sử d ng.
Ngày 27/8/2023, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã tiến hành lập Hội đồng bóc m niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định và vật chứng. Kết quả cân tịnh:
Cân tách bì 01 viên nén màu hồng trong gói nilon màu trắng thu giữ của Thào A D được tổng khối lượng là 0,108 gam. Trích toàn bộ 0,108 gam làm mẫu giám định, ký hiệu D.
Kết luận giám định số 2083/KL-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
Mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy, Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,108 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,108 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Thào A D sử d ng ma túy từ năm 2021. Khoảng 19h00 ngày 25/8/2023 D mang theo số tiền 30.000đ (Ba mươi ngàn đồng) là tiền lao động, tiết kiệm mà có rồi điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 26C1 - 229.45 mượn của ông Giàng A L, sinh năm 1986, trú tại bản B, xã C, Sông Mã, Sơn La là chú họ của D đi từ nhà bản H đến bản T cùng xã P, Mai Sơn, Sơn La để tìm mua ma túy sử d ng. Đến nơi, D gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ ven đường ngược chiều, D dừng xe lại hỏi mua được của người này 01 (một) viên Hồng phiến được gói bằng giấy nilon màu trắng với giá 25.000đ (Hai mươi năm ngàn đồng). Mua được ma túy D cất giấu vào trong cốp xe rồi điều khiển xe đi về nhà, còn người đàn ông dân tộc Mông đi đâu không rõ. Trên đường đi về nhà D có dừng xe tại một quán bán hàng tạp hóa ven đường mua 01 (một) chiếc bánh mì hết 5.000đ (Năm ngàn đồng) để ăn, sau đó tiếp t c điều khiển xe mô tô đi về nhà. Về đến nhà D chưa sử d ng viên hồng phiến vẫn để trong cốp xe mô tô và không nói cho ai khác biết việc cất giấu ma túy trong cốp xe. Đến khoảng 10h ngày 26/8/2023 D điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 26C1-229.45 bên trong cốp xe có chứa gói ma túy mua được ngày 25/8/2023 đi từ nhà đến xã Chiềng Khoong, Sông Mã, Sơn La để làm thuê xoáy long nhãn. Khi D đang trên đường đi đến bản Bó Luông, xã Chiềng Khoong, Sông Mã, Sơn La thì gặp tổ công tác Công an xã C làm nhiệm v , yêu cầu dừng xe để kiểm tra phát hiện trong cốp xe của D có 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 01 (một) viên hồng phiến. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A D về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng và tài sản liên quan.
Cáo trạng số: 218/CT-VKSSM ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Thào A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Giàng A L ý kiến: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 26C1 - 229.45 ông cho Thào A D mượn để làm phương tiện đi học và làm thuê. Việc D dùng làm phương tiện đi vi phạm pháp luật thì ông không biết. Ngày 08/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Sông Mã đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông, nay ông không có yêu cầu gì thêm.
- Kiểm sát viên sau khi trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng: Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
- Hồi 11 giờ 00 phút ngày 26/8/2023, tổ công tác Công an xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La làm nhiệm v tuần tra, kiểm soát ma túy tại khu vực bản B, xã C, Sông Mã thì phát hiện bắt quả tang Thào A D đang có hành vi cất giấu 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng, theo kết luận giám định là ma tuý, thuộc loại Methamphetamine, có khối lượng 0,108 gam, m c đích Tàng trữ để sử d ng.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Thào A D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.
Về vấn đề khác liên quan trong v án:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bản T, xã P, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 26C1 - 229.45 tạm giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của ông Giàng A L (chú họ của D), đăng ký mang tên Giàng A L, địa chỉ: Bản B, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Ông L cho D mượn chiếc xe mô tô để làm phương tiện đi học và làm thuê, việc bị cáo dùng chiếc xe mô tô làm phương tiện đi vi phạm pháp luật thì ông L không biết. Kết quả tra cứu không có trong cơ s dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 08/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã ra Quyết định trả cho chủ s hữu hợp pháp là ông Giàng A L là có căn cứ. Tại phiên toà, ông Giàng A L không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng của v án còn lại: 01 mảnh Nilon màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí.
Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Thào A D 01 năm 03 tháng tù (một năm ba tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ các đồ vật: 01 mảnh Nilon màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ; được đựng trong 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 208 ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 23/11/2023.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La - S Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |