vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đức T và đồng phạm bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khỏan 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày: 12/6/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngụy Thế Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Vũ

Ông Bùi Hoàng Sơn

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/6/2023 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Đức T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989, tại tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn Y, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Hoàng Vĩnh T, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: Mã Thị Ư, sinh năm 1962; có vợ là Lý Thị P, sinh năm 1989 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/11/2022, chuyển sang tạm giam từ ngày 02/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’leo cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đàm Văn Y; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1993, tại tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn Y, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Đàm Văn L (đã chết); Họ tên mẹ: Triệu Thị V, sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/11/2022, chuyển sang tạm giam từ ngày 02/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’leo cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Thẩm Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1988, tại tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Buôn K, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Thẩm Văn Q, sinh năm 1943; Họ tên mẹ: Triệu Thị C, sinh năm 1946; có vợ là Hứa Thị H, sinh năm 1990 và có 03 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’leo cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Thẩm Văn H là bà: Nguyễn Thị Bích N – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Số 39 đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nông Văn H, sinh năm 1986; trú tại: Thôn X, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

2. Lý Thị P, sinh năm 1989; trú tại: Thôn Y, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.(vắng mặt)

3. Lý Thị Đ, sinh năm 1995; trú tại: Thôn X, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.(có mặt)

- Người làm chứng: Ông Bùi Đình H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn Y, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 26/11/2022, Thẩm Văn H mượn xe mô tô biển số 47D1 - 548.42 của anh Nông Văn H (là hàng xóm của H) đi đến nhà anh Hoàng Văn T ở Làng T, xã E, huyện E để nhậu. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H đi xe mô tô về lại nhà, khi đến khu vực chợ xã E, H gặp Đàm Văn Y, do có quen biết với nhau và cùng là người nghiện ma túy nên H nói với Y “anh có 200.000 đồng, anh đưa cho mày đi mua ma túy về cùng sử dụng”, Y đồng ý. Cùng lúc này có Hoàng Đức T cũng đi xe mô tô biển số 47D1 - 381.19 (mượn của vợ là chị Lý Thị P) đến, thấy T thì H hỏi “sáng nay chơi ma túy chưa”, T trả lời “chưa chơi” rồi T hỏi lại H “anh có thì chia em với”, H nói với T “anh có 200.000 đồng đây đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng”. Tất cả đồng ý, sau đó H đưa cho Y 200.000 đồng, rồi Y một mình điều khiển xe mô tô của H đi phía trước, còn T chở H đi theo phía sau, khi đi đến khu vực nghĩa địa, thuộc thôn X, xã Ea H. T và H đứng ở bên ngoài chờ, còn Y đi vào phía bên trong gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy, người này đồng ý lấy 200.000 đồng của Y và nói với Y đi lên khu vực nghĩa địa bên trên, ma túy để ở dưới bát hương trên ngôi mộ nhỏ nằm giữa hai ngôi mộ lớn. Nghe vậy Y đi ra nói lại với T và H, sau đó cả 03 người tiếp tục đi xe lên khu vực nghĩa địa phía trên, cách khu vực nghĩa địa trước khoảng 60 mét. Đến nơi, tất cả xuống xe, T đi trước còn Y và H đi theo sau, đến vị trí nơi để ma túy, T dùng tay nghiêng bát hương ở ngôi mộ nhỏ, thấy có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có 02 gói giấy bạc màu trắng và 03 gói giấy bạc màu vàng, biết rõ là ma túy, T lấy cầm trên tay trái của mình, khi T, Y và H chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị tổ công tác, thuộc Công an xã E, huyện E đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện, kiểm tra, thu giữ trong tay trái của T 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có 02 gói giấy bạc màu trắng và 03 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều có chứa chất rắn màu trắng. Công an xã E tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và Y về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật, còn H đã bỏ chạy khỏi hiện trường.

Tại Kết luận giám định số: 1200/KL-KTHS, ngày 02/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 02 gói giấy bạc màu trắng và 03 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,4005 gam, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKS-HS, ngày 08/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố các bị cáo Hoàng Đức T, Đàm Văn Y và Thẩm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm của các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức T, Đàm Văn Y và Thẩm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Đức T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Đàm Văn Y từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Thẩm Văn H từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 0,3547 gam ma túy, loại: Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, không có giá trị sử dụng

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 47D1 - 548.42 và xe mô tô biển số 47D1 - 381.19 cho anh Nông Văn H và chị Lý Thị P, là những chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Thẩm Văn H là bà Nguyễn Thị Bích N trình bày:

Về tội danh: Bà N thống nhất với tội danh mà Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Thẩm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt: Bà N cho rằng mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo đưa ra từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù đối với bị cáo H là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo H sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, vợ chồng bị cáo sống ly thân, một mình bị cáo phải nuôi ba con nhỏ, khối lượng 0.4005 gam ma túy mà các bị cáo tàng trữ là không lớn. Do đó đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H mức hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo.

Về án phí: Do bị cáo H là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo có sổ hộ nghèo nên đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sợ vụ án. Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn H, chị Lý Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nhận thấy việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tính tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào lúc 13 giờ, ngày 26/11/2022, tại địa bàn thôn X, xã E, huyện E. Hoàng Đức T, Đàm Văn Y và Thẩm Văn H đang có hành vi Tàng trữ trái phép 0,4005 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng, thì bị Công an xã E, huyện E phát hiện bắt quả tang. Do đó Cáo trạng của đại diện Viện Kiểm sát huyện Ea H’leo truy tố các bị cáo Hoàng Đức T, Đàm Văn Y, Thẩm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét thấy, hành vi tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Thẩm Văn H là người chủ động và trực tiếp đưa số tiền 200.000 đồng và giao xe cho bị cáo Đàm Văn Y đi mua ma túy về sử dụng. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo H nghiêm khắc hơn so với bị cáo T và Y, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Đức T, Đàm Văn Y và Thẩm Văn H, nhưng không xác định được rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 0,3547 gam ma túy, loại: Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, không có giá trị sử dụng.

- Đối với xe mô tô biển số 47D1 - 548.42 và xe mô tô biển số 47D1 - 381.19. Quá trình điều tra xác minh xe mô tô biển số 47D1 - 548.42 và xe mô tô biển số 47D1 - 381.19 do anh Nông Văn H và chị Lý Thị P là chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 26/11/2022 các bị cáo mượn xe đi công việc, sau đó thực hiện hành vi phạm tội thì anh H và chị P không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Ea H’leo đã trao trả cho anh Nông Văn H và chị Lý Thị P là phù hợp.

. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Đức T và Đàm Văn Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Thẩm Văn H là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUY T ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Đức T, Đàm Văn Y và Thẩm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Thẩm Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 16/3/2023.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 26/11/2022.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 26/11/2022.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Ea H’leo đã trao trả xe mô tô biển số 47D1 - 548.42 và xe mô tô biển số 47D1 - 381.19 cho anh Nông Văn H và chị Lý Thị P là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy 0,3547 gam ma túy, loại: Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, không có giá trị sử dụng.

(Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Công an huyện Ea H’leo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’leo)

- Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Hoàng Đức T, Đàm Văn Y mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thẩm Văn H.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ