vanban.org

Bản án 40/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2023 đến ngày 05/5/2023).

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng gồm tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tiền số AA/2021/0001974 ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T1 phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2023 đến ngày 05/5/2023).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-PT
Ngày 25 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Hiệp

Ông Phạm Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974 tại huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: xóm Đ, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp không; trình độ văn hoá 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị X; có vợ Nguyễn Thị N và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0400934/QĐ-XPHC ngày 30/6/2022 của Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T1 bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã nộp tiền phạt xong ngày 30/6/2022; bị bắt tạm giữ từ ngày 08/3/2023 chuyển tạm giam từ ngày 17/3/2023 đến ngày 05/5/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án còn có 04 bị cáo và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 08/3/2023, Nguyễn Văn T1 gặp và rủ Vũ Văn V đến nhà anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1964 trú tại xóm Đ, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình để đánh bạc được thua bằng tiền. Sau đó T1 đi ăn sáng trong chợ G, xã T thì gặp và rủ Phạm Xuân T2 và Hoàng Ngọc C đến nhà anh K tham gia đánh bạc được thua bằng tiền. C không có tiền nên T1 đã cho C vay số tiền 10.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc rồi cả hai đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn K.

Khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, Vũ Văn V đi đến nhà anh K. Thấy V đi vào nhà thì anh K đi vào trong phòng khách tầng 1 uống nước cùng V. Khi anh K đang pha trà thì V nói “Cho bọn cháu chơi phỏm tý nhé”, K không đồng ý nên nói “Chúng mày còn chưa chết à, làm chủ gia đình cả rồi”. Thấy vậy, V không nói gì nữa. Sau khi uống nước, anh K đi ra ngoài vườn tiếp tục làm việc. Khoảng 05 phút sau, Phạm Xuân T2, Hoàng Ngọc C và Trần Văn S lần lượt đi đến nhà anh K ngồi uống nước cùng V. V nói với S “Mày đi mua bộ bài”, San đồng ý và đi ra quán tạp hóa của chị Đinh Thị P, sinh năm 1994 trú tại xóm N, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình mua 01 bộ tú lơ khơ 52 quân mang về nhà anh K. Khoảng hơn 09 giờ cùng ngày, T1 cũng đi bộ đến ngồi uống nước cùng V, T2 và C. Khi S mua bộ bài quay về và để bộ tú lơ khơ trên bàn, ngồi uống nước cùng mọi người. Lúc này T1 rủ V, T2, C và S tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, tất cả mọi người đều đồng ý và cùng nhau lên phòng ngủ tầng 2 nhà anh K để đánh bạc. Khi lên tầng 2, V cầm bộ bài mà S mua về từ trước đồng thời lấy chiếc chiếu có sẵn trong phòng trải ra nền nhà ngồi xuống chia bài. Sau đó V, S, T1, T2 và C cùng thống nhất tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, mức cược mỗi ván thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng. Sau khi chơi được vài ván, T1 bảo S, V, C và T2 mỗi người đưa cho T1 số tiền 200.000 đồng để T1 đưa cho anh K chủ nhà dọn dẹp. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi các đối tượng Nguyễn Văn T1, Hoàng Ngọc C, Phạm Xuân T2, Trần Văn S và Vũ Văn V đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã T, huyện G kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Quá trình bắt quả tang Công an thu giữ 01 chiếc chiếu mây kích thước (1,6 x 1,8) m; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 63.880.000 đồng (gồm: 42.680.000 đồng thu tại chiếu đánh bạc; số tiền 13.600.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T1; số tiền 2.600.000 đồng thu giữ của Hoàng Ngọc C và số tiền 5.000.000 đồng thu giữ của Trần Văn S). Sau đó Công an đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an xã T, huyện G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2023 đến ngày 05/5/2023). Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh “Đánh bạc” đối với các bị cáo Trần Văn S, Phạm Xuân T2, Hoàng Ngọc C và Vũ Văn V với mức hình phạt từ 03 năm tù cho hưởng án treo đến 03 năm 06 tháng tù, tuyên biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo cho các bị cáo và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1; sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2023 đến ngày 05/5/2023). Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng gồm tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tiền số AA/2021/0001974 ngày 01/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện G lập ngày 08/3/2023, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ 09 giờ 00 phút đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/3/2023, tại phòng ngủ tầng 2 của nhà anh Nguyễn Văn K tại xóm Đ, xã T, huyện G, tỉnh Ninh Bình các bị cáo Nguyễn Văn T1, Trần Văn S, Phạm Xuân T2, Hoàng Ngọc C và Vũ Văn V đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 63.880.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T3 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đang có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc”. Mặt khác bị cáo là người khởi xướng, chủ động rủ rê các bị cáo trong vụ án tham gia đánh bạc và cùng tham gia đánh bạc trong khoảng thời gian từ 09 giờ 00 phút ngày 08/3/2023 đến khoảng 10h cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang. Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, vị trí vai trò của bị cáo trong vụ án và đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không nặng. Tuy nhiên trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 22/9/2023 bị cáo nộp 01 đơn xác nhận của Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình ngày 21/9/2023, xác nhận ngày 01/8/2023, bị cáo đã có công tố giác tội phạm giúp Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phát hiện và khởi tố vụ án “Đánh bạc” với 04 bị can tại trang trại của anh Phan Văn L ở xóm …, xã S, huyện G, tỉnh Ninh Bình; ngoài ra bị cáo xuất trình Biên lai thể hiện đã nộp số tiền 10.200.000 đồng là tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo của pháp luật. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình;

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T1 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2023 đến ngày 05/5/2023). Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng gồm tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tiền số AA/2021/0001974 ngày 01/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Ninh Bình.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Bị cáo Nguyễn Văn T1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 25/9/2023.

Cỡ chữ