vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 27/09/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lư Thị Mỹ T.

Bà Lư Thị Mỹ T được ly hôn với ông Xu XuanX. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình, Ly hôn - bà Lư Thị Mỹ Tiên và ông Xu XuanXuan"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lư Thị Mỹ T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27 - 9 - 2023
V/v tranh chấp “ hôn nhân
và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Tố Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương;

2. Bà Lê Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Thanh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HN ngày 22 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HN ngày 10 tháng 3 năm 2023 và các Thông báo mở lại phiên tòa, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lư Thị Mỹ T, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: ấp Bắc S, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: 39 Trần C, phừơng Lê B, quận Cái R, thành phố Cần Thơ, vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Xu XuanX, sinh năm 1991, nơi cư trú: Số 30, tổ 2, thôn Tứ Hà K, trấn Trần T, thành phố Tiên Ð, tỉnh Hồ Bắc,Trung Quốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lư Thị Mỹ T trình bày:

Bà T và ông Xu XuanX kết hôn vào năm 2019, hôn nhân của ông, bà do tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Sở Dân chính tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc giấy chứng nhận kết hôn số J420000-2019-000758 cấp ngày 16/7/2019, trích lục ghi chú kết hôn số 34/TLGCKH ngày 15-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn hòa hợp được tính tình, bất đồng ngôn ngữ, phong tục tập quán.Nay bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với Xu XuanX

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông ông Xu XuanX đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch làm việc của Tòa án. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn chưa có kết quả trả lời việc thực hiện ủy thác tư pháp.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai. Chủ tọa phiên tòa công bố các đơn và tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn, ông Xu XuanX, quốc tịch Trung Quốc, cư trú tại số 30, tổ 2, thôn Tứ Hà Khẩu, trấn Trần Trường, thành phố Tiên Ðào, tỉnh Hồ Bắc,Trung Quốc. Nguyên đơn cư trú tại thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vụ án hôn nhân và gia đình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Nguyên đơn bà Lư Thị Mỹ T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn, ông Xu XuanX có địa chỉ tại Trung Quốc nhưng cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn chưa có kết quả trả lời việc thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt hồ sơ trực tiếp (Thông báo thụ lý và Lịch xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang). Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Thượng Hải -Trung Quốc thông báo trên Cổng thông tin điện tử về việc thụ lý giải quyết vụ án, đồng thời đăng thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 08-8-2023 đến nay đã quá thời hạn 01 tháng, Tòa án chưa nhận được ý kiến của ông Xu XuanX về vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

2.1] Quan hệ hôn nhân của bà Lư Thị Mỹ T và ông Xu Hui có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Sở Dân chính tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc giấy chứng nhận kết hôn số J420000-2019-000758 cấp ngày 16/7/2019, trích lục ghi chú kết hôn số 34/TLGCKH ngày 15-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn khởi kiện ly hôn và trình bày nguyên nhân xin ly hôn là do phát sinh mâu thuẫn vợ chồng không còn hòa hợp được tính tình, bất đồng ngôn ngữ, phong tục tập quán.

Bị đơn, ông Xu XuanX có địa chỉ tại Trung Quốc nhưng cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn chưa có kết quả trả lời việc thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt hồ sơ trực tiếp (Thông báo thụ lý và Lịch xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang). Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Thượng Hải -Trung Quốc thông báo trên Cổng thông tin điện tử về việc thụ lý giải quyết vụ án, đồng thời đăng thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 08-8-2023 đến nay đã quá thời hạn 01 tháng, Tòa án chưa nhận được ý kiến của ông Xu XuanX về vụ án.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung đã không còn trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung nợ chung,: Không yêu cầu nên giải quyết.

Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lư Thị Mỹ T.

1. Bà Lư Thị Mỹ T được ly hôn với ông Xu XuanX.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Lư Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000349 ngày 26-10-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Lư Thị Mỹ T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về lệ phí ủy thác tư pháp:

Bà Lư Thị Mỹ T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), lệ phí ủy thác tư pháp, được trừ vào tiền tạm ứng chi phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0068322 ngày 28-10-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ lệ phí ủy thác tư pháp.

Thời hạn kháng cáo của bà Lư Thị Mỹ T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Thời hạn kháng cáo của ông Xu XuanX là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ