vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Hồ Minh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Hồ Minh T đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018624 ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu. Trường hợp bản á…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 3 - 2023
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Nghiêm.

Ông Vũ Minh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2023/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 02 năm 2023, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hồ Minh T, sinh năm 1963 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/02/2023 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn là ông Hồ Minh T trình bày:

Về hôn nhân, vào năm 1987 ông (Hồ Minh T) và bà Nguyễn Thị T xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và thường xuyên tranh cãi. Ông và bà Nguyễn Thị T không còn chung sống với nhau từ năm 2009 cho đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên ông yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Về con chung có 02 người tên là Nguyễn Thị T (giới tính nữ) sinh ngày 15/10/1992 và Hồ Ngọc C (giới tính nữ), sinh ngày 07/7/1996. Hiện cả hai người con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn xin vắng mặt cùng ngày 09/3/2023, bị đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về thời gian xác lập quan hệ vợ chồng và việc không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như về mâu thuẫn và thời gian không còn chung sống với nhau đúng như ông Hồ Minh T trình bày. Nay ông Hồ Minh T yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý. Về con chung có 02 người tên là Nguyễn Thị T (giới tính nữ) sinh ngày 15/10/1992 và Hồ Ngọc C (giới tính nữ), sinh ngày 07/7/1996. Hiện cả hai người con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Hồ Minh T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[3]. Xét về hôn nhân: Ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1987 đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 cho đến nay mà không thể hàn gắn, không thể tiếp tục chung sống nên ông Hồ Minh T yêu cầu được ly hôn, bà Nguyễn Thị T đồng ý ly hôn. Do hôn nhân giữa ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Căn cứ vào các điều 9, 14 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T không được công nhận là vợ chồng.

[4]. Về con chung: Ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T thống nhất xác định có 02 người con là Nguyễn Thị T (giới tính nữ) sinh ngày 15/10/1992 và Hồ Ngọc C (giới tính nữ), sinh ngày 07/7/1996. Hiện cả hai người con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về nợ chung: Ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[7]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Hồ Minh T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 9, 14 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Hồ Minh T và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Hồ Minh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Hồ Minh T đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018624 ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ