vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Trần Thị Trúc L được ly hôn với Ông Nguyễn Văn Nh. Giấy chứng nhận kết hôn số 168, quyển số 01 ngày 17/10/2011 của Ủy ban nhân dân xã Phú Th không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ T
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 01 - 2023
“V/v ly hôn giữa
Bà L và ông N”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

Ông Huỳnh Văn Sức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2022/TLST-HNGĐ ngày 26/10/2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 279/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Trúc L, sinh năm 1987.

Trú tại: Số 650 đường tỉnh lộ 954, khóm Long H1, phường Long S, thị xã Tân Ch, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1986.

Trú tại: Tổ 6, ấp Phú Cường B, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Bà L có mặt, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 19/08/2022 nguyên đơn Bà Trần Thị Trúc L trình bày:

Hôn nhân của Bà L và ông N do mai mối rồi thành vợ chồng tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2011, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Th. Giấy chứng nhận kết hôn số 168, quyển số 01 ngày 17 tháng 10 năm 2011, chung sống hạnh phúc được bảy năm thì phát sinh mâu thuẫn do ông N đam mê cờ bạc tiền làm ra bao nhiêu cũng tiêu xài cá nhân, gây ra nợ nần, bà Trúc L đã cố gắng khắc phục cho ông N sữa đổi tính tình vợ chồng cùng làm ăn nhưng ông N vẫn không thay đổi, vợ chồng vì thế hay cải nhau những lần cải nhau ông N đánh Bà L. Vợ chồng Bà L thỏa thuận sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn Bà L yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: Ông N và Bà L có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Trúc Q, sinh ngày 16/05/2013 và Nguyễn Trần Trúc Quỳ, sinh ngày 30/8/2016 con chung đang sống với Bà L, khi ly hôn nếu con chung muốn sống với ai thì người đó nuôi, không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có. Ngày 17/11/2022 Bà Trần Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn Nh vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được ông Lê Minh Quới - Trưởng ấp Phú Cường B, xã Phú Th cho biết: Ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1986 có đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại ấp Phú Cường B, xã Phú Th, Bà L và ông N là vợ chồng, thời gian kết hôn và mâu thuẫn của Bà L, ông N như thế nào thì địa phương không rõ, Bà L và ông N không còn chung sống hơn năm năm nay.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, Tuy nhiên Ông Nguyễn Văn Nh vắng mặt từ khi được thông báo các văn bản tố tụng, nhưng ông không có mặt là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của ông N và Bà L do tự tìm hiểu, được sự đồng ý của gia đình hai bên nên tổ chức lễ cưới năm 2011 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Th ngày 17/10/2011, hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được. Nên yêu cầu ly hôn của bà Trúc L là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về con chung: Hiện tại đang sống với Bà L, ông N vắng mặt, không có ý kiến về việc nuôi con chung nên đề nghị Hội Đồng xét xử không xem xét. Đề nghị HĐXX giao con chung cho Bà L tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông N nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Ông Nguyễn Văn Nh được tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông không có mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt ông N theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hiện tại ông N có nơi cư trú tại ấp Phú Cường B, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.

[2.] Về nội dung:

Hôn nhân của Bà L và ông N được xác lập năm 2011, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Xét về yêu cầu ly hôn, thấy rằng: Trong thời gian chung sống vợ chồng Bà L, ông N có nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn kéo dài, đời sống tình cảm ngày càng trầm trọng. Năm 2017 Bà L, ông N thỏa thuận ly thân, trong thời gian ly thân ông N không tới lui thăm hỏi vợ hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, đều này phù hợp với lời trình bày của ông Lê Minh Quới và phù hợp với các chứng cứ Tòa án thu thập được.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng Bà L, ông N không còn chung sống khoảng hơn 05 năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Trúc L được ly hôn ông N.

[3] Về con chung: Bà L trình bày vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Trúc Q, sinh ngày 16/05/2013 và Nguyễn Trần Trúc Quỳ, sinh ngày 30/8/2016 con chung chưa thành niên và tại bảng tự khai ngày 22/12/2022, cháu Quyên có nguyện vọng được sống chung với mẹ, con chung hiện tại đang sống chung với Bà L. Xét thấy từ khi ly thân đến nay con chung hai con chung đang sống với Bà L, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu Trúc Quyên và Trúc Quỳnh cho Bà L nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Bà L trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[4] Về án phí: Bà Trúc L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

-Điều 19, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

-Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Trần Thị Trúc L được ly hôn với Ông Nguyễn Văn Nh.

Giấy chứng nhận kết hôn số 168, quyển số 01 ngày 17/10/2011 của Ủy ban nhân dân xã Phú Th không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Bà Trần Thị Trúc L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai người con chung tên Nguyễn Trần Trúc Q, sinh ngày 16/05/2013 và Nguyễn Trần Trúc Quỳ, sinh ngày 30/8/2016. Con chung hiện đang sống với Bà L.

Ông Nguyễn Văn Nh không phải cấp dưỡng cho con.

Việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên không cố định

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không.

Nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không.

Về án phí: Bà Trần Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005682 ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Phú T, tỉnh An Giang. Bà L không phải nộp thêm án phí.

Ông Nguyễn Văn Nh không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông N vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày ông, bà nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ