vanban.org

Bản án 40/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng. [3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. [4] Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. [5] Về án phí: anh Trần Văn H nộp số tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần V H"
  • Tòa quyết gì? Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng dân sự - Căn cứ vào Nghị; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 40 /2023/HNGĐ -ST
Ngày 25/ 05/2023
"V/v Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƢỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Xuyến Các Hội thẩm nhân dân: [1] Ông Trần Đức Hòa [2] Bà Lê Thị Thận. Thư ký phiên tòa: bà Mai Thị Chang - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, thụ lý số 239/ TLST – HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39 /2023/QĐST – HNGĐ ngày 14 tháng 04 năm 2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: anh Trần Văn H; sinh năm 1986 ( vắng mặt ) Địa chỉ: Thôn 8, xã N T , huyện B Đ, tỉnh Bình Phước Bị đơn: chị Lê Thị Bích H; sinh năm 1987 ( vắng mặt ) Địa chỉ: Thôn 8, xã N T , huyện B Đ, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28/8/2022 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn

trình bày:

Tôi và cô Lê Thị Bích H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N T , huyện B Đ, tỉnh Bình Phước ngày 31/8/2009, số đăng ký 65, quyển số1/2009, quá trình sống chung đến năm 2021 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp với nhau, bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cãi nhau, sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: là Trầ n Lê Phương T, sinh ngày 23/03/ 2010 và Trầ n Gia H, sinh ngày 12/4/ 2016. sau khi ly hôn anh Hoà ng nhậ n nuôi hai con và không yêu cầ u cấ p dưỡ ng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Lê Thị Bích H mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm khẳng định: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý đến nay là đúng. Tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tố tụng của các đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau: [1]Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định. [2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án, anh Trần Văn H có đăng ký kết hôn với chị Lê Thị Bích H, nay nguyên đơn xin ly hôn, vì vậy quan hệ pháp luật là “ Tranh chấp ly hôn”, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. [3] Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng anh Trần Văn H và chị Lê Thị Bích H tự nguyện sống chung và có đủ điều kiện đăng ký kết hôn, như vậy quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn H và chị Lê Thị Bích H là hợp pháp.

Xét mâu thuẫn gia đình: Quá trình sống chung, anh Trần Văn H và chị Lê Thị Bích H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn vợ chồng, các bên đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Bị đơn chị Lê Thị Bích H mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Như vậy mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, anh Trần Văn H được ly hôn với chị Lê Thị Bích H . [4] Về con chung: Theo nguyện vọng của nguyên đơn và của các cháu, giao cháu Trầ n Lê Phương T , sinh ngày 23/03/ 2010 và Trầ n Gia H , sinh ngày 12/4/ 2016 cho anh Trần Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng, anh Hoàng không yêu cầ u cấ p dưỡ ng nên không xem xét. [5]Về tài sản chung : Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. [6]Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. [7]Về án phí: anh Trần Văn H nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điề u 147 Bộ luật tố tụng dân sự

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí của Toà án; [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, anh Trần Văn H được ly hôn với chị Lê Thị Bích H. [2] Về con chung: Giao cháu Trầ n Lê Phương T , sinh ngày 23/03/2010 và Trầ n Gia H, sinh ngày 12/4/2016 cho anh Trần Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng. [3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. [4] Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. [5] Về án phí: anh Trần Văn H nộp số tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000đ, tuy nhiên khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000744 ngày 10/11/2022 (đã nộp xong).

Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú .

Cỡ chữ