- Tranh chấp gì? án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thùy Nh được ly hôn với anh Cà Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số:40/2023/HNGĐ - ST Ngày 17/3/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Khải
Bà Bạc Thị Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thùy Nh, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Bản Ph, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn: Anh Cà Văn T; Sinh năm 1993.
Địa chỉ: Bản H, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Hiện nay đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.
Địa chỉ: Thôn Đồng Rùa, xã Vũ Oai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
(Chị Nh có mặt, anh T xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/12/2022 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Lò Thùy Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thùy Nh và anh Cà Văn T kết hôn với nhau vào ngày 07/6/2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Chị Nh và anh T kết hôn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, anh T không quan tâm chăm sóc cho gia đình vợ con, không chịu khó làm ăn, mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không tìm được tiếng nói chung. Chị Nh và anh T đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ khi ly thân đến nay cả hai đều không còn quan tâm đến nhau. Chị Nh nhận thấy tình cảm của chị với anh T không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa vì vậy chị Nh đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Nh khai vợ chồng có một con chung là Cà Phương Uyên, sinh ngày 23/7/2016. Nguyện vọng của chị Nh xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Chị Nh không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng, đất: Chị Nh khai không có.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Điện Biên đã có công văn số 50/CV-TA ngày 12/12/2022 gửi Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh về việc tiến hành giao Thông báo thụ lý vụ án cho anh T.
Tại bản tự khai đề ngày 16 tháng 12 năm 2022 anh Cà Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T công nhận có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh An, huyện Điện Biên. Trong quá trình chung sống từ khi kết hôn đến nay có nhiều mâu thuẫn trong gia đình.
Về con chung: Anh T khai có một con chung là Cà Phương Uyên, sinh ngày 23/7/2016. Anh T không có ý kiến gì về con chung và nhất trí với đề nghị của chị Nh về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như chị Nh đã trình bày trong đơn.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng: Anh T khai không có.
Về tài liệu chứng cứ: Anh T không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ chị Nh giao nộp.
Tại phiên tòa chị Nh vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa giải quyết các yêu cầu như trong đơn khởi kiện và không có ý kiến bổ sung. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như bản tự khai, không có ý kiến nào khác gửi thêm cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Chị Lò Thùy Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Cà Văn T và yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Anh T có hộ khẩu thường trú tại Bản Huổi Cánh, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên.
Quá trình giải quyết vụ án do anh T đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Quảng Ninh nên không thể tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ. Do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải mà chỉ thông báo kết quả phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Cà Văn T do vậy đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Khoản 2, Khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự
Ngày 17/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên đã tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án. Chị Nh có mặt, anh T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lò Thùy Nh và anh Cà Văn T kết hôn ngày 07/6/2016, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Chị Nh và anh T kết hôn tự nguyện, không ai bị ép buộc và tuân thủ đầy đủ các qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Tại các bản tự khai chị Nh và anh T đều khai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được và đã sống ly thân.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nh và anh T đều khai và công nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài không chung sống cùng nhau. Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn giữa chị Nh và anh T là có thật, anh T không làm tròn trách nhiệm, đã nghiện ma túy và phải cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Quảng Ninh. Hôn nhân giữa chị Nh và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị Nh.
. Về con chung:
Chị Nh và anh T đều thừa nhận có một con chung là Cà Phương Uyên sinh ngày 23/7/2016. Vợ chồng ly hôn chị Nh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh cũng nhất trí giao con chung cho chị Nh nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện này anh T đang chấp hành án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung được. Chị Nh ngoài làm nông nghiệp còn đi làm thuê để có thêm thu nhập Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho con chung và đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận sự nguyện vọng của chị Nh, anh T. Giao con chung cho chị Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Nh không yêu cầu anh T cấp dưỡng, anh T cũng nhất trí, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về quan hệ tài sản:
Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về, đất ruộng: Chị Nh và anh T đều khai là không có.
. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thùy Nh được ly hôn với anh Cà Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Cà Phương Uyên sinh ngày 23/7/2016 cho chị Lò Thùy Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có thay đồi khác. Chị Nh không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản: Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ lấy về; diện tích ruộng: Không có.
4. Về án phí:
Chị Lò Thùy Nh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Nh đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005107 ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên. Chị Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự: Chị Lò Thùy Nh có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/3/2023); Anh Cà Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Điện Biên;
- VKSND huyện Điện Biên;
- Chi cục THADS huyện Điện Biên;
- UBND xã Th;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Thùy Dương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Bạc Thị Kiên Nguyễn Quang Khải
Đặng Thị Thùy Dương
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Điện Biên; - UBND xã Thanh An; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Quang Khải Bạc Thị Kiên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thùy Dương THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thùy Dương |