- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn L phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HS-ST Ngày 28-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Lò Văn Vy;
2- Bà Phạm Thị Thanh An.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2022/HSST ngày 08/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/QĐXXST-HS ngày 15/9/2022 đối với bị cáo:
Đặng Văn L. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 23/3/1989 tại huyện PT, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn C, xã PN, thị xã NL, tỉnh Yên Bái. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Số CCCD: 015089030517. Con ông Đặng Văn C, sinh năm 1960 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1964. Vợ: Lò Thị H, sinh năm 1992. Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020;
Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án. Ngày 29/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 09/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/7/2022, tạm giam từ ngày 11/7/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Nghĩa Lộ. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Lò Thị H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn C, xã PN, thị xã NL, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
Hà Văn M, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn PX, xã PN, thị xã NL, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn L là người nghiện ma túy, khoảng 08 giờ ngày 06/7/2022, L đi nhờ xe máy của một người không quên biết đến khu vực ngã ba đường rẽ đi xã Pá Lau và xã Túc Tán, huyện Trạm Tấu. L xuống xe đi bộ theo đường đi xã Pá Lau, được khoảng 300m thì gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon chứa ma túy, loại Heroine với giá 3.500.000 đồng. Sau đó, L quay lại ngã ba trên và đi nhờ xe máy của một người không quen biết khác về nhà. Tại nhà mình, L dùng dao lam chia một phần số ma túy vừa mua được thành 09 phần nhỏ gói trong 09 mảnh giấy bạc rồi để vào một túi nilon khác cất giấu trong người với mục đích để bản thân sử dụng. Số ma tuý còn lại L cho vào túi nilon, rồi cất vào ngăn kéo tủ kệ ti vi kê tại phòng khách với mục đích khi nào sử dụng hết số ma túy đã chia thì tiếp tục chia số ma túy còn lại để sử dụng. Sau khi chia ma túy xong, L đã sử dụng hết 01 trong 09 gói ma túy.
Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 07/7/2022, L đang ngồi tại phòng khách nhà mình thì Hà Văn M đến hỏi mua ma túy. Ban đầu do chưa có ý định bán ma túy nên L không đồng ý, nhưng do quen biết từ trước và thấy M lên cơn nghiện nên L đã đồng ý. L nói với M là 01 gói ma túy giá 350.000 đồng, sau đó lấy gói ma túy được gói bằng giấy bạc đưa cho M, M nhận gói ma túy và đưa lại cho L số tiền 350.000 đồng, L nhận tiền cất vào túi quần phía sau bên phải đang mặc thì bị Công an bắt quả tang. Thấy có Công an, M bỏ chạy nhưng sau đó đã bị khống chế bắt giữ, quá trình bỏ chạy M đã làm rơi gói Heroine vừa mua được của L, Cơ quan Công an truy tìm nhưng không thấy. Công an thu giữ tại túi quần L đang mặc số tiền 860.000 đồng; thu giữ tại mặt bàn uống nước trước mặt L đang ngồi 01 túi nilon màu trắng có khóa nhựa một đầu, bên trong có 07 gói giấy bạc, trong mỗi gói giấy bạc đều có chứa chất bột nén màu trắng.
Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Đặng Văn L, L đã tự nguyện lấy từ trong ngăn kéo tủ kệ ti vi kê tại trong phòng khách nhà ở của L 01 túi nilon màu trắng có khóa nhựa một đầu, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (BL: 24-25).
Tại các Kết luận giám định số: 387/KL-KTHS và số: 388/KL-KTHS cùng ngày 15/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:
Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Đặng Văn L có tổng khối lượng 1,53 gam. 0,1 gam trích từ 1,53 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét đối với Đặng Văn L có khối lượng là 3,64 gam. 0,1 gam trích từ 3,64 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Tổng số tiền 860.000 đồng thu giữ trong vụ án đều là tiền do ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành (BL: 34-36).
Cáo trạng số 35/CT-VKS-NL, ngày 07/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, đã truy tố Đặng Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 5 triệu đến 10 triệu đồng. Xử lý vật chứng và tài sản theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn L đã thành khẩn khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà mình đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận: Đặng Văn L đã mua ma túy, loại heroine với số tiền là 3.500.000 đồng đem về để bản thân sử dụng. Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 07/7/2022, Hà Văn M đến nhà L hỏi mua ma túy nhưng L không bán. Sau đó do quen biết và thấy M lên cơn nghiện L đồng ý bán cho M 1 gói heroine giá 350.000,đ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Văn L là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng, không những xâm hại đến chính sách độc quyền kiểm soát các chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng tình trạng nghiện ma túy, gia tăng tội phạm ma túy, cũng như các tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Tác động, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội của địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán chất ma túy là trái pháp luật nhưng vì vụ lợi vẫn cố ý thực hiện. Với lần bán ma túy cho M và khối lượng ma túy 5,17 gam heroine bị thu giữ với mục đích để bán như trên, hành vi của bị cáo đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt tăng nặng quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đặng Văn L là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo phạm tội nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội; ngoài ra, khi Công an khám xét khẩn cấp nơi ở và đồ vật, bị cáo có hành vi tự lấy số ma túy còn lại cất giấu trong ngăn kéo tủ, đem ra giao nộp cho Công an. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 09/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Đến nay chưa được xóa án tích (Do chưa thi hành xong khoản tiền phải nộp ngân sách do phạm tội mà có), lại tiếp tục phạm tội là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định lại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân: Do Đặng Văn L là người nghiện ma túy đã nhiều năm, đã mua ma túy vừa để sử dụng vừa bán kiếm lời và là người đang có án tích nên bị cáo là người có quá trình nhân thân xấu.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như trên, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Hình phạt tù cũng tạo môi trường, điều kiện để bị cáo cai nghiện ma túy có kết quả, đồng thời góp phần răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với động cơ vì vụ lợi nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ.
- Tịch thu tiêu hủy 4,97 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 03 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong vật chứng cùng toàn bộ túi nilon và các mảnh giấy bạc.
- Số tiền 860.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong đó, có 350.000,đồng là tiền bị cáo bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách. Số tiền còn lại 510.000,đ không liên quan đến việc phạm tội cần trả cho chị Lò Thị H (vợ của bị cáo) là chủ sở hữu hợp pháp.
[6] Trong vụ án này:
Đặng Văn L khai nhận nguồn gốc số ma túy L mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ mà chỉ nhớ đặc điểm người này. Cơ quan đã tiến hành xác minh nhưng không đủ cơ sở để điều tra, làm rõ.
Đối với Hà Văn M là người đã mua ma túy của L để sử dụng. Hành vi của M không cấu thành tội phạm. Cơ quan Điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an xã PN để theo dõi quản lý theo quy định.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Những đề nghị có căn cứ của Kiểm sát viên, bị cáo như Hội đồng xét xử đã nhận định nêu trên, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/7/2022.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đặng Văn L 5.000.000,đ (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách.
2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy:
4,97 gam ma túy loại Heroine. Được niêm phong trong 01 phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. 03 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong vật chứng cùng toàn bộ túi nilon và các mảnh giấy bạc.
- Tịch thu nộp ngân sách số tiền 350.000,đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) do Đặng Văn L phạm tội mà có.
- Trả lại cho chị Lò Thị H số tiền 510.000,đ (Năm trăm mười nghìn đồng).
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách.
4. Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh YB; -VKSND tỉnh YB, Sở Tư pháp; -VKSND, THADS TX Nghĩa Lộ; -Công an thị xã Nghĩa Lộ 2 bản; -Người có QLNVLQ; -Bị cáo; UBND xã PN; -Hồ sơ THA phạt tù; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Xuân Hà |