vanban.org

Bản án 40/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 10/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lê Trung Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung uộc ị cáo phải chấp hành cho cả hai tội là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt giam thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:40/2022/HSST
Ngày: 10/3/2022

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Đặng Thanh Tấn

- Bà Lê Thị Kiều Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-HS ngày 25/02/2022 đối với ị cáo:

Lê Trung Đ; Sinh năm 1991, tại Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: số nhà 44/6 đường Chi Lăng, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Tiến L, sinh năm: 1954; và à Bùi Thị Kim C: sinh năm: 1962; Cùng trú tại: số nhà 44/6 đường Chi Lăng, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo đang được áp dụng iện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Nguyễn Đặng Tú N – sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: 370 đường 19/4 phương Xuân An, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

2. Đặng Văn H – sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 5, Phú Trinh, Phan Thiết, Bình Thuận.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (vắng mặt)

1. Lương Thuận H – sinh năm 1984

Địa chỉ: xóm 7, thôn Đại Thiện 1, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.

2. Phạm Thái B – sinh năm 1995

Địa chỉ: Khu phố 2, Đức Long, Phan Thiết, Bình Thuận.

3. Võ Thị Cẩm V – sinh năm 1995

Địa chỉ: Hẻm 79 đường Trường Chinh, xã Phong Nẫm, Phan Thiết, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 11/5/2020, Lê Trung Đ đang ở nhà nghỉ Vip 92 (thuộc số nhà 92 Đặng Văn Ngữ, thành phố Phan Thiết) thì Đặng Văn H đến chơi. Khoảng 15 phút sau, Đ mượn xe mô tô hiệu Vario (chưa có iển số) của Hải để đi lấy tiền nợ thì H đồng ý. Sau khi được H cho mượn xe mô tô, Đ điều khiển xe mô tô đi lấy tiền của những người nợ Đ nhưng không lấy được, do không lấy được tiền để trả nợ tiền nhà nghỉ và tiền tiêu xài cá nhân nên Đ nảy sinh ý định cầm thế chiếc xe mô tô hiệu Vario của H để lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Đ lấy điện thoại gọi điện cho Lương Thuận H và nói “em có công việc cần tiền, anh thế cho em chiếc xe” thì Lương Thuận H hỏi “xe ở đâu, xe gì?”, Đ trả lời “xe nhà em, loại xe Vario, em thế một hôm, hôm sau e chuộc lại” thì Lương Thuận H đồng ý. Đ hẹn gặp Lương Thuận H tại đường Lê Duẩn gần Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận để lấy xe. Khoảng 10 phút sau, Đ và Lương Thuận H đến điểm hẹn, Lương Thuận H xem xe của Đ và hỏi “Sao xe chưa có iển số” thì Đ trả lời “xe mới mua trả góp, vài hôm nữa mới có”. Sau đó, Lương Thuận Hải nhận cầm thế chiếc xe mô tô Vario với giá 15.000.000 đồng thì Đức đồng ý. Sau khi nhận tiền từ Lương Thuận H, Đ ắt xe thồ về lại nhà nghỉ Vip 92 và gặp Đặng Văn H, Đặng Văn H hỏi Đ “xe đâu rồi?” thì Đ trả lời “xe ị mất, có gì ngày 15/5/2020 người nhà anh ở quê gửi tiền vào, anh mua trả lại” thì Đặng Văn H không nói gì và ra về.

Đến khoảng 17 giờ ngày 17/5/2020, do hết tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Đặng Văn H đem án lấy tiền tiêu xài. Đức nhắn tin cho Đặng Văn H với nội dung “anh có việc, hai đứa có thừa chiếc xe nào cho anh mượn một chiếc để lấy tiền trả nợ cho H” thì H đồng ý. Lúc này, H điện thoại cho Nguyễn Đặng T là ạn gái của Đặng Văn H và nói N đem xe mô tô cho Đ mượn đi lấy tiền thì N đồng ý. Khoảng 20 phút sau, Đặng Văn H cùng Nguyễn Đặng Tú N đến nhà nghỉ Vip 92 đưa xe mô tô iển số 86C1 – 413.95 cho Đ mượn. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô iển số 86C1 – 413.95 còn H và N ở lại nhà nghỉ Vip 92 đợi Đức. Sau khi lấy được xe mô tô iển số 86C1 – 413.95, Đ gọi điện cho Phạm Thái B và nói “anh có việc, em hỏi thế giùm anh chiếc xe” thì B hỏi “xe ở đâu?” Đ trả lời “xe của gia đình” thì B nói “anh đợi em một tí em gọi lại để em hỏi ạn em”. Sau đó B gọi cho Võ Thị Cẩm V và nói “ V có đủ 3.000.000 đồng không, giúp anh Đ cầm thế chiếc xe mô tô ?” thì Vy trả lời “đủ 3.000.000 đồng”. Lúc này, B gọi điện cho Đ và nói “V nó còn 3.000.000 đồng nên đồng ý cầm thế cho anh 3.000.000 đồng”. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô iển số 86C1 – 413.95 đến nhà trọ của B để gặp V, V đưa cho Đ số tiền 3.000.000 đồng, còn Đ đưa cho V xe mô tô iển số 86C1 – 413.95. Sau đó, Đ ắt xe thồ về nhà nghỉ Vip 92, Đ trả phòng nghỉ và sang nhà nghỉ Hoa Hùng để trách gặp H và N. Số tiền cầm xe, Đ trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.

Đặng Văn H và Nguyễn Đặng Tú N không đợi được Đ nên đi về nhà, sau đó liên lạc với Đ không được, iết mình ị lừa nên đã trình áo sự việc nêu trên cho Công an phường Phú Trinh. Đến khoảng 22 giờ ngày 18/5/2020, Công an phường Phú Trinh đã mời Đ lên làm việc, Đ thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Vario màu xám đen, không iển số, số khung MH1JM5115LK602280, số máy JM51E1602052 (do Lương Thuận H giao nộp).

- 01 xe mô tô hiệu Air Blade, mang iển số 86C1 – 413.95, số khung RLHJF4606DV123522, số máy JF46E – 0150705 (do Phạm Thái B giao nộp).

Tại Kết luận định giá tài sản số 122/KL-HDĐG ngày 12/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết kết luận:

01 xe mô tô hiệu Honda Vario, số khung MH1JM5115LK602280, số máy JM51E1602052 trị giá 27.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 123/KL-HDĐG ngày 12/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết kết luận:

01 xe mô tô hiệu Air Blade, mang biển số 86C1 – 413.95, số khung RLHJF4606DY123522, số máy JF46E – 0150705 trị giá 14.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự:

Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô hiệu Honda Vario, không iển số cho anh Đặng Văn H. Anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Đối với xe mô tô hiệu Air Blade, mang iển số 86C1 – 413.95 do chị Đặng Thị Hoa H đứng tên sở hữu. Chị H cho con gái Nguyễn Đặng Tú N sử dụng chiếc xe mô tô nêu trên nên Cơ quan trả lại chiếc xe mô tô iển số 86C1 – 413.95 cho chị H. Chị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Lê Trung Đ đã trả cho anh Lương Thuận H số tiền 15.000.000 đồng và chị Võ Thị Cẩm V số tiền 3.000.000 đồng là tiền anh H, chị V nhận cầm thế hai xe mô tô nêu trên. Anh H và chị V đã nhận lại tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại ản cáo trạng số 202/CT-VKS ngày 24 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Lê Trung Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của ị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự xử phạt ị cáo Lê Trung Đ mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt uộc ị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội.

Bị cáo không trình ày lời ào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 17 giờ ngày 11/5/2020, tại số 92 Đặng Văn Ngữ, khu phố 11, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết. Lợi dụng sự tin tưởng Đặng Văn H, nên sau khi mượn xe mô tô hiệu Vario (không iển số) của Đặng Văn H để đi lấy tiền, thì Lê Trung Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên. Cụ thể Đ đã đem thế xe mô tô của Đặng Văn H cho Lương Thuận H với giá là 15.000.000 đồng. Giá trị chiếm đoạt là 27.000.000 đồng.

Vào khoảng 17 giờ ngày 17/5/2020, do hết tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Đặng Văn H đem án lấy tiền tiêu xài. Đ nhắn tin cho Đặng Văn H và nói mượn xe của H để lấy tiền trả cho H thì H đồng ý. H gọi điện cho Nguyễn Đặng Tú N nói N đưa xe cho Đ mượn đi lấy tiền thì N đồng ý cùng đem xe của N qua cho Đ mượn. Sau khi có xe mô tô iển số 86C1 – 413.95, Đ cầm thế chiếc xe trên cho Võ Thị Cẩm V với giá 3.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài. Giá trị chiếm đoạt chiếc xe trên là 14.000.000 đồng.

Hành vi của ị cáo Lê Trung Đ đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố ị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của ị cáo cho thấy: Bị cáo là một thanh niên khỏe mạnh, ị cáo ý thức được tài sản của công dân được pháp luật ảo vệ thế nhưng với ản chất tham lam tư lợi cao, muốn nhanh chóng có thu nhập mà không phải lao động nặng nhọc nên sau khi được người ị hại cho mượn xe đi công việc ị cáo lại chiếm đoạt luôn chiếc xe của người ị hại án lấy tiền tiêu xài. Sau đó do hết tiền tiêu xài ị cáo lại nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Đặng Văn H. Bị cáo đã ị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của người ị hại, dùng thủ đoạn gian dối là mượn xe đi công việc để Nguyễn Đặng Tú N giao xe, sau đó ị cáo lại đem xe đi thế lấy tiền để thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, ất chấp pháp luật. Hành vi của ị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý ằng iện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục ị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố ị cáo thành thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với số tiền ị cáo đã trả lại cho những người nhận cầm thế 02 chiếc xe. Tại ản cáo trạng đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là ồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả quy định tại điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát cho rằng việc ị cáo trả lại tiền cho những người nhận cầm thế xe là do giao dịch dân sự giữa hai ên vô hiệu nên hai ên phải trả cho nhau những gì đã nhận, không thể xem là ồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra được, vì vậy nên rút đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là ồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả quy định tại điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng cho ị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị trên của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của ị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của ị cáo xét thấy hành vi của ị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly ị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết. Đồng thời áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt uộc ị cáo phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội.

Biện pháp tư pháp:

- Về phần bồi thường dân sự: Tại phiên tòa người ị hại vắng mặt nhưng thể hiện tại hồ sơ là đã nhận lại tài sản, không yêu cầu ị cáo ồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lương Thuận H, Phạm Thái B và Võ Thị Cẩm V vắng mặt nhưng thể hiện tại hồ sơ là đã được ị cáo ồi thường đủ số tiền nhận cầm thế xe nên không yêu cầu ị cáo ồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy ñònh của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với Lương Thuận H, Phạm Thái B và Võ Thị Cẩm V là những người đã nhận cầm thế xe môtô cho Đ nhưng không iết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 175, khoản 1 Điều 174; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt: Lê Trung Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung uộc ị cáo phải chấp hành cho cả hai tội là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt giam thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy an thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, uộc ị cáo Lê Trung Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt ị cáo, vắng mặt người ị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo ản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người ị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo ản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án, hoặc niêm yết công khai ản án.

Cỡ chữ