vanban.org

Bản án 40/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 14/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TU bố bị cáo Tăng Văn Tường phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch Th tiêu hủy: 01 phong bì ghi số 57/PC09 ghi vụ Tăng Văn Tường đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ Th ận hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? TU bố bị cáo Tăng Văn Tường phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HSST
Ngày: 14/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ry

2. Ông Bùi Xuân Quý.

Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít - cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng: Bà Trần Th Trang-Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường Trường tiểu học và Trung học cơ sở Lê Lợi Th ộc thôn 4, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai, lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/TLST-HS ngày 11/5/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HS ngày 30/5/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tăng Văn Tường, sinh năm: 1970 tại Cao Bằng; NKTT: Tổ 7,

thị trấn Hòa Th ận, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở: Thôn Hang Ka, xã L. B , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng Văn Dèn, sinh năm 1942 đã chết và bà Hoàng Thị Niêm, sinh năm 1954; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/7/1996 bị Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng; ngày 29/01/2004 bị Công an huyện Phực Hòa nay là Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 01/11/2007, bị Công án phường Sông Bằng, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 17/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2022 cho đến nay hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

1. Bà Tăng Thị Th , sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Hang Ka, xã L. B , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt tại phiên tòa”.

2. Bà Lưu Mỹ U , sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Hang Ka, xã L. B , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt tại phiên tòa”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

“Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:”

Bị cáo Tăng Văn Tường là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 12/01/2022, Tăng Văn Tường hỏi mượn xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 75K1-026.38 của chị Tăng Thị Th , sinh năm: 1967, HKTT: Thôn Hang Ka, xã L. B , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng và nói với chị Th mượn xe đi công việc nhưng mục đích là đi mua ma túy về để sử dụng. Sau đó, Tường điều khiển xe đến ngã ba thôn Hang Ka, xã L. B , huyện Bảo Lâm thì gặp Trần Văn Vương và cho Vương đi nhờ xe ra hướng Trung tâm y tế huyện Bảo Lâm. Do có quen biết nhau từ trước nên trên đường đi, Tường nói cho Vương biết về việc mình đi mua ma túy, nếu mua được nhiều sẽ cho Vương một ít để sử dụng. Tường chở Vương đến đoạn đường dốc Th ộc thôn 6, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, Tường nói Vương đứng chờ còn Tường điều khiển xe một mình đi đến ngã ba buôn Đạ Tồn Th ộc Thôn 6, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng gặp và mua của một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, Tường cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái của mình và điều khiển xe mô tô quay lại chỗ Vương đứng đợi, khi vừa đến chỗ Vương thì bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua giám định xác định ma túy Th giữ của bị cáo là chất heroin có khối lượng 0,1213g.

Tại phiên Tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ ngU nôi dung Bản cáo trạng 35/CTr-VKS ngày 11/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Tăng Văn Tường về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, khiếu nại hay tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

“Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:”

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có cơ sở xác định: Bị cáo Tăng Văn Tường là đối tượng nghiện ma túy nên có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 07 giờ ngày 12/01/2022 bị cáo hỏi mượn xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 75K1-026.38 của chị Tăng Thị Th điều khiển xe đến ngã ba thôn Hang Ka, xã L. B , huyện Bảo Lâm thì gặp ông Trần Văn Vương và cho ông Vương đi nhờ xe ra hướng Trung tâm y tế huyện Bảo Lâm. Trên đường đi, bị cáo Tường nói cho ông Vương biết về việc mình đi mua ma túy, nếu mua được nhiều sẽ cho ông Vương một ít để sử dụng. Bị cáo Tường chở ông Vương đến đoạn đường dốc Th ộc thôn 6, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Tường nói ông Vương đứng chờ còn bị cáo điều khiển xe một mình đi đến ngã ba buôn Đạ Tồn Th ộc Thôn 6, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng gặp và mua của một đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, bị cáo cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái của mình và điều khiển xe mô tô quay lại chỗ ông Vương đứng đợi, khi vừa đến chỗ ông Vương thì bị Công an xã Lộc Tân phối hợp với Công an xã B’Lá bắt quả tang khi đang tàng trữ ma túy và được giám định kết luận là ma túy, có khối lượng 0,1213g gam loại Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được ma tuý nói chung và Heroine nói riêng là chất độc hại, gây nghiện có tác hại đến sức khỏe của người sử dụng, làm băng hoại nhân cách con người, hủy hoại giống nòi, gây đau thương tan tác cho nhiều gia đình, gây phẫn nộ trong quần chúng nhân dân ở địa phương; ma túy là nguồn cơn nhiều hành vi phạm tội khác và là một loại hàng đặc biệt nhà nước độc quyền quản lý, bất kỳ ai vi phạm đến ma tuý, tuỳ tính chất mức độ đều bị xử lý nghiêm nhưng vẫn cố tình vi phạm. Đối với hành vi này phải được nghiêm trị trước pháp luật và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu thể hiện qua việc bị cáo bị xử phạt hành chính 03 lần, bị xét xử 8 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2011. Lẻ ra trong những thời gian cải tạo bị cáo thật ăn năn hối cải để trở thành công dân tốt, lấy đó làm bài học kinh ngiệm cho mình nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện bị cáo là người rất xem thường pháp luật.

Xét đề nghị của viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo như vậy là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tôi do bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn ma túy nói riêng và tội phạm cả nước nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có Th nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với ông Trần Văn Vương: Quá trình bị cáo mua ma túy và tàng trữ ông Vương không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Tăng Thị Th , khi cho bị cáo Tường mượn xe mô tô thì bà Th không biết bị cáo Tường dùng xe để đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Tường: Mặc dù có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau là phù hợp.

Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 phong bì đựng gói vật chứng trước giám định cần phải tịch Th tiêu hủy;

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ -đen biển kiểm soát 75K1-026.38, số máy 5B95-096128, số khung 50BY-096.126 Th giữ của Tăng Văn Tường quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc nên cần tU giao cho Co quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ.

Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dung Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. TU bố bị cáo Tăng Văn Tường phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tăng Văn Tường 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2022

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch Th tiêu hủy: 01 phong bì ghi số 57/PC09 ghi vụ Tăng Văn Tường đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ Th ận hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.

- Giao cho Co quan điều tra huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ -đen biển kiểm soát 75K1-026.38, số máy 5B95-096128, số khung 50BY-096.126 để tiếp tục xác minh, làm rõ.

3. Về án phí: Áp dung Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà Th có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tU án 14/6/2022; bà U được quyền kháng cáo bản án kể từ khi nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th ận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ