- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 40/2022/HS-ST Ngày: 12-8-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Triệu khánh Long.
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đy Na – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS, ngày 25/7/2022 đối với bị cáo:
Thạch K, sinh ngày 01/01/1974 tại C – Sóc Trăng, Nơi cư trú: khóm A, phường B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch X (c) và bà Thạch Thị B (c); Anh, chị em ruột có 09 người, lớn nhất sinh năm 1958, nhỏ nhất sinh năm 1979; vợ Lâm Thị L và 02 người con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2022 đến nay (Bị cáo có mặt).
Bị hại: Thạch N, sinh năm 1986; (có mặt)
Nơi cư trú tại: khóm A, phường B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.
Người làm chứng:
1. Thạch Thị D (N), sinh năm 1963 (vắng mặt);
2. Lâm Ph, sinh năm 1950; (vắng mặt)
Cùng cư trú: khóm A, phường B, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.
Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lâm Diệp Panh - Cán bộ hưu trí khóm 1, phường 1, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 26/11/2021, Thạch K trên đường về nhà đến cây cầu bê tông trước nhà Thạch N thuộc khóm A, phường B, thị xã C bị giăng dây phong tỏa (phòng chống dịch Covid 19) nên K mới chửi Thạch N “ sao mầy rào cây cầu không cho tao đi” Thạch N liền trả lời “cây cầu do Công an rào”. Sau đó, Thạch K đi về nhà lấy một cây kéo bằng kim loại và một khúc gỗ dài hơn 01 mét quay lại chỗ cây cầu, nhìn thấy Thạch N đang đứng trước nhà. K liền dùng khúc gỗ đánh trúng vào người Thạch N, làm cho Thạch N té xuống đất, K tiếp tục nhào đến dùng cây kéo đâm liên tục 04 nhát trúng vào vùng ngực trái và nách của N gây thương tích thì được ông Lâm Ph đến ngăn cản nên sự việc kết thúc. Thạch N được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế thị xã C đến ngày 08/12/2021 thì xuất viện, sau đó Thạch N có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Thạch K về hành vi cố ý gây thương tích.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiến hành trưng cầu giám định thương tích cho Thạch N.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 15/TgT-PY ngày 05/01/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, kết luận Thạch N có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06% thương tích do vật sắc nhọn gây nên (bút lục 133, 134).
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu tiến hành khởi tố vụ án và khởi tố bị can Thạch K để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Thạch K đã tự khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-VC ngày 06/7/2022 Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu để xét xử bị cáo: Thạch K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận đã viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 do bị cáo thực hiện hành vi mang tính chất côn đồ và sử dụng hung khí nguy hiểm đã gây tổn hại sức khỏe cho bị hại 06% là các tình tiết định khung hình phạt, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Thạch K về tội “cố ý gây thương tích”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 xử phạt: Thạch K từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội cố ý gây thương tích. Ngoài ra, đại diện viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi kéo nhọn dài 13,5cm, cán kéo bọc nhựa màu đen dài 8,5cm.
- Tại phiên tòa, bị cáo Thạch K khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên tòa, bị hại Thạch N trình bày: Thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và lời nhận tội của bị cáo; Về trách nhiệm dân sự bị hại yêu cầu bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động và tiền bù đắp tổn thất tinh thần cụ thể là:
- Tiền thuốc và viện phí (10 toa): 3.923.027 đồng
- Tiền thất công lao động của người bệnh: (20 ngày x 350.000đ) = 7.000.000đ
- Tiền thất công lao động của người nuôi bệnh: (13 ngày x 200.000đ) = 2.600.000 đồng.
- Tiền xe đi cấp cứu và điều trị: 120.000 đồng
- Tiền tổn thất tinh thần: 25.000.000 đồng.
Tổng số tiền là 38.643.027; Về trách nhiệm hình sự: Bị hại yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái nên đã thật sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 91, 92, 94, 98, 100, 102, 104, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa Thạch Thị D và Lâm Ph là người làm chứng đều vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng trong quá trình điều tra. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thạch K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh diễn lại hành vi, lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận vào khoảng hơn 17 giờ ngày 26/11/2021 bị cáo Thạch K đã dùng cây kéo có mũi nhọn bằng kim loại dài 13,5cm đâm vào vùng ngực và nách bên trái của Thạch N gây tổn hại sức khỏe là 06%. Bị cáo hoàn toàn không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng sẵn sàng dùng cây kéo nhọn bằng kim loại là hung khí nguy hiểm để đâm gây thương tích cho bị hại, rõ ràng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi một cách hung hãn, ngang ngược coi thường pháp luật là “có tính chất côn đồ” và “dùng hung khí nguy hiểm”. Theo Bộ luật hình sự năm 2015 đây là tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 nên Cáo trạng xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khoẻ của con người, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần phải có một mức án tương xứng đối với bị cáo để làm gương cho người khác.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc Khmer có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bồi thường các khoản chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và thu nhập thực tế bị mất tổng cộng là 38.643.027 đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét các khoản chi phí hợp lý gồm các khoản cụ thể như sau:
- Tiền thuốc và viện phí (10 toa): 3.923.027 đồng
- Tiền thất công lao động của người bệnh: (20 ngày x 350.000đ) = 7.000.000đ
- Tiền thất công lao động của người nuôi bệnh: (13 ngày x 200.000đ)=2.600.000 đồng.
- Tiền xe đi cấp cứu và điều trị: 120.000 đồng
- Tiền tổn thất tinh thần: 15.000.000 đồng.
Tổng cộng là 28.643.027 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị cáo Thạch K phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Thạch N tổng số tiền là 28.643.027 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi kéo nhọn dài 13,5cm, cán kéo bọc nhựa màu đen dài 8,5cm theo phiếu nhập kho số NK35 ngày 14/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Thạch K phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Thạch K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyền xử:
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thạch K 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 357, Khoản 1 Điều 584, Điều 585, Khoản 1 Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Thạch K có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Thạch N tổng số tiền là 28.643.027 đồng (Hai mươi tám triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn không trăm hai mươi bảy đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại Thạch N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Thạch K còn phải trả lãi cho bị hại theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi kéo nhọn dài 13,5cm, cán kéo bọc nhựa màu đen dài 8,5cm theo phiếu nhập kho số NK35 ngày14/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Thạch K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 1.432.151 đồng án phí dân sự trên phần bồi thường.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Cơ quan THAHS CA thị xã Vĩnh Châu; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - CQĐT CA thị xã Vĩnh Châu; - Sở TP tỉnh Sóc Trăng, - Bị cáo; Bị hại; - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Triệu Khánh Long Nguyễn Huỳnh Hoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Thanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thanh |