- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HS-ST Ngày: 17 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Hồng Minh;
Ông Trần Xuân Chỉnh.
- Thư ký phiên toà : Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2022/TLST-HS, ngày 27 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2021/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1999, tại: Tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT: TT, xã NC, huyện NT, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Thôn PCH, xã NH, huyện NT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; đảng phái: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 (đã chết); mẹ đẻ: Mai Bích V, Sinh năm 1971, hiện đang sinh sống tại xã NC, huyện NT, tỉnh Nam Định; gia đình có 02 anh em, Nguyễn Tuấn V là con thứ nhất; chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nguyễn Tuấn V bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/7/2022 đến ngày 07/7/2022 chuyển tạm giam; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 04/7/2022, Tổ công tác Công an huyện Nam Trực làm nhiệm vụ tuần tra tại trục đường Vàng thuộc thôn Phố Cầu Chanh, xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tuấn V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ ở túi quần bên phải của Nguyễn Tuấn V 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn tinh thể màu trắng, V khai nhận đó là gói ma túy V mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an huyện Nam Trực đã đưa Nguyễn Tuấn V cùng vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nam Hùng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng kí hiệu M.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nam Trực đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn V, tại thôn Phố Cầu Chanh, xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thu giữ tại mặt bàn phòng khách quán cắt tóc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu hồng niêm phong kí hiệu K1 và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 cục chất bột màu xanh niêm phong kí hiệu K2.
Tại bản kết luận giám định số 998/KL-KTHS, ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận:
- Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được thu giữ niêm phong kí hiệu M là ma túy, loại ma túy Ketamine, khối lượng mẫu M: 0,863 gam.
- Mẫu chất bột dạng cục màu hồng được thu giữ niêm phong kí hiệu K1 là ma túy, loại ma túy MDMA, khối lượng mẫu K1: 0,054 gam.
- Mẫu cục chất bột màu xanh được thu giữ niêm phong kí hiệu K2 là ma túy, loại ma túy MDMA, khối lượng mẫu K2: 0,163 gam.
Cáo trạng số 41/CT-VKS, ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Tuấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bản thân như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội, giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Nguyễn Tuấn V từ 01năm 03 tháng đến 01năm 06 tháng tù; không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định.
- Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự.
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của Nguyễn Tuấn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét nơi ở, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Trên cơ sở những chứng cứ trên, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 4 tháng 7 năm 2022, Nguyễn Tuấn V có hành vi tàng trữ trái phép trong người 0,863 gam Ketamine và tàng trữ trái phép tại nơi ở của mình ở thôn Phố Cầu Chanh, xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 0,217 gam MDMA, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 1,080 g. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo Nguyễn Tuấn V là người có đầy đủ nhận thức, bản thân bị cáo đã biết về tác hại của ma túy, sự lên án của toàn xã hội đối với tệ nạn ma túy, song bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, từ bỏ ma túy mà vẫn phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo khó khăn nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn V, thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, mới có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, nên không phạt tiền bổ sung.
Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy sau khi giám định còn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Tuấn V, chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ cơ sở kết luận nên đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 998/KL-KTHS, ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2022 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Nguyễn Tuấn V phải nộp 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tuấn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Nam Trực; - Chi cục THADS huyện Nam Trực; - Công an huyện Nam Trực; - UBND xã Nam Cường; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Hồng Minh Trần Xuân Chỉnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thi THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thi |