vanban.org

Bản án 40/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Xử lý vật ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HS-ST
Ngày 30-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành

Ông Lê Thanh Nhất

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Diệp Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Đoàn Văn L, sinh ngày 12/7/1989 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C và bà Phan Thị C; có vợ là Vương Thị L và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền sự: Không;

Tiền án có 01: Tại Bản án số 184/2019/HSST ngày 21/10/2019, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt L 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, L chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2021 và các quyết định khác của bản án. Hiện chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2022, tạm giam từ ngày 17/01/2022 (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị C, sinh năm 1965; trú tại: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

- Người chứng kiến: Anh Trần Vũ H, sinh năm 1989; trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/01/2022 Đoàn Văn L là người nghiện ma túy có nhu cầu sử dụng ma túy nên một mình đi xe máy nhãn hiệu Super Club 50 màu xanh, không có biển kiểm soát đến đoạn đường dân sinh thuộc thôn X, xã B, huyện L để tìm mua ma túy, lúc này khoảng 14 giờ cùng ngày L gặp và hỏi mua của người đàn ông tên H 01gói ma túy Heroine với giá 100.000đ, H đồng ý, L đưa cho H 100.000 đồng, H cầm tiền và bán cho L 01 gói ma túy heroine được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột cục màu trắng, sau đó L cầm gói ma túy vừa mua được trên tay phải và điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng. Khi L đi đến khu vực gần đình Đ thuộc thôn Đ, xã B thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch phát hiện bắt quả tang. Sau đó lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, niêm phong gói ma túy ký hiệu A1 và vật chứng khác có liên quan.

Ngày 14/01/2022 Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản giám định số 168/KLGĐ, kết luận: “Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1370g (không phảy một ba bảy mươi gam, không kể bao bì) loại Heroine.

Vật chứng thu giữ: Mẫu A1 = 0,1370g heroine, cơ quan giám định hoàn lại mẫu = 0,0725g; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số viettel có số seri: 8984048000334058625 và số viettel có số seri: 8984048000334058632; 01 xe máy nhãn hiệu Super Club 50 màu xanh, không có biển kiểm soát, có số khung: C50E-9052141, L sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe máy này là tài sản của bà Phan Thị C (mẹ đẻ L), L mượn của bà C vào trưa ngày 10/01/2021.

Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Văn L đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 20/4/2022, Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đoàn Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đoàn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đoàn Văn L đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đoàn Văn L từ 15 đến 18 tháng tù, không phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Đoàn Văn L nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định…. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/01/2022, tại khu vực gần đình Đ thuộc thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Đoàn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 01 gói ma túy có khối lượng 0,1370 gam loại Heroine.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Đoàn Văn L thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…c,Heroine …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội vì nó làm xói mòn đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung góp phần phục vụ việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương và làm gương cho người khác.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không chịu rèn luyện để trở thành công dân tốt, không chịu làm ăn lương thiện mà lao vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử về tội ma túy đó là: Ngày 21/10/2019, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến nay chưa được xóa án tích nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Việc tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo Đoàn Văn L thực hiện là để bị cáo sử dụng ma túy, chưa đem nguồn lợi gì cho gia đình, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản gì lớn nên không cần thiết phải phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

. Bị cáo L khai nhận nguồn gốc ma tuý Heroine mua của người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,0725g mẫu vật và bao gói hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số viettel có số seri: 8984048000334058625 và số viettel có số seri: 8984048000334058632. Quá trình điều tra xác định là chiếc điện thoại và sim số của L dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho L nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Super Club 50 màu xanh, không có biển kiểm soát, có số khung: C50E-9052141, L sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe máy này là tài sản của bà Phan Thị C (mẹ đẻ L), L mượn của bà C vào trưa ngày 10/01/2021 và nói đi có việc, L tự ý dùng để đi mua ma túy và bà C không biết, chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do vậy, cần trả lại chiếc xe trên cho bà C.

. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,0725g gam mẫu vật và bao gói hoàn lại sau giám định;

Trả lại bà Phan Thị C: 01 xe máy nhãn hiệu Super Club 50 màu xanh, không có biển kiểm soát, có số khung: C50E-9052141.

Trả lại Đoàn Văn L: 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số viettel có số seri: 8984048000334058625 và số viettel có số seri: 8984048000334058632 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch).

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đoàn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ