vanban.org

Bản án 40/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/4/2022). Giao bị cáo Chơn cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo C cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Minh C phạm tội - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HS-ST
Ngày: 06-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

2. Ông Thái Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh C, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Tổ 10, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Tổ 13, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha tên: Nguyễn Hồng T, mẹ tên: Nguyễn Thị L (đã chết); Anh chị em ruột gồm có 03 người kể cả bị cáo; bị cáo có vợ tên: Nguyễn Thị Thu T, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết sau tai nạn);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (là chồng của bà L); (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Tổ 13, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/9/2021, Nguyễn Minh C điều khiển lùi xe ô tô tải biển số 62C-041.44 trên đường Cá Lăng (đoạn thuộc ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh), hướng lùi từ Bến Đò ra tỉnh lộ 15, trên phần đường bên trái đường Cá Lăng (theo hướng tỉnh lộ 15 đi Bến Đò), do bị cáo C cẩu thả và kém quan sát nên để phần cản sau xe ô tô tải đụng vào bà Nguyễn Thị L đang đi bộ phía sau bên trái xe ô tô tải của bị cáo C, làm bà L té ngã xuống đường, xe ô tô tải lùi cán lên người bà L, nghe tiếng người dân truy hô thì bị cáo dừng xe lại. Bị cáo xuống xe kiểm tra phát hiện bà L nằm dưới gầm xe ô tô tải bị thương tích. Bị cáo đã cùng với người dân đưa bà L đi cấp cứu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bà L tử vong tại Bệnh viện đa khoa khu vực C.

Hiện trường vụ tai nạn tại đường Cá Lăng thuộc ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí xảy ra tai nạn là đoạn đường cong được trải nhựa bằng phẳng, rộng 05m, không có vạch kẻ đường, áp dụng lưu thông 02 chiều, phần đường bên phải hướng tỉnh lộ 15 đi Bến Đò giao với đường số 25 rộng 03m, bằng phẳng. Lấy mép đường (lề) bên trái theo hướng tỉnh lộ 15 đi Bến Đò làm chuẩn. Lấy trụ đèn số 4 ở lề phải làm điểm cố định.

Sau tai nạn, xe ô tô tải biển số 62C-041.44 dừng bên lề trái đường Cá Lăng (hướng tỉnh lộ 15 đi Bến Đò), đầu xe hướng Bến Đò, đuôi xe hướng ra tỉnh lộ 15, trục trước bên trái và trục sau bên trái xe ô tô đo vào mép đường (lề) chuẩn lần lượt là 0m90 và 00m70, trục sau cách góc đường cong 09m00.

Tại bản Kết luận giám định số: 4401/C09B ngày 05/11/2021 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Các dấu vết trượt sạch bụi dạng vân vải mặt ngoài bên trái cản sau và mặt ngoài ốp nhựa cụm đèn tín hiệu phía sau bên trái xe ô tô tải biển số 62C-041.44 có chiều từ sau về trước, từ dưới lên trên phù hợp va chạm với bộ hành Nguyễn Thị L.

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải biển số 62C-041.44 và bộ hành trên mặt đường thuộc phần đường bên phải đường Cá Lăng theo hướng Bến Đò đi tỉnh lộ 15.

- Khi va chạm xe ô tô tải biển số 62C-041.44 đang chuyển động lùi trên đường Cá Lăng theo hướng Bến Đò đi tỉnh lộ 15; bộ hành đang ở bên trái phía sau xe ô tô tải biển số 62C-041.44; không đủ cơ sở xác định hướng chuyển động của bộ hành.

Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo C điều khiển xe lùi bên trái chiều đi của mình và kém quan sát phía sau gây tai nạn làm chết một người. Đối với nạn nhân đi bộ đúng quy định nên không có lỗi.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1515/TT.21 ngày 14/10/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Nguyễn Thị L chết do đa chấn thương.

Vật chứng vụ án: 01 xe ô tô tải biển số 62C-041.44. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người quản lý, sử dụng hợp pháp bà Nguyễn Thị Thu T.

Về phần dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã hỗ trợ, bồi thường chi phí mai táng, tổn thất cho gia đình nạn nhân số tiền 265.000.000đ. Ông Trần Văn T là chồng nạn nhân đã nhận tiền và có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc, khiếu nại.

Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKS.CC ngày 24/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 ; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.

Tại phiên tòa, bị cáo Chơn thừa nhận hành vi phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung được năm 2017) là đúng, không oan sai gì cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo trình bày hoàn cảnh đình khó khăn, là lao động chính gia đình, bị cáo phải lái xe chở rau củ thuê để nuôi vợ và 02 con còn nhỏ đang tuổi ăn học, bản thân bị cáo và gia đình đã cố gắng khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/9/2021, bị cáo điều khiển lùi xe ô tô tải biển số 62C-041.44 trên đường Cá Lăng, đoạn thuộc ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, hướng lùi từ Bến Đò ra tỉnh lộ 15, trên phần đường bên trái đường Cá Lăng (theo hướng tỉnh lộ 15 đi Bến Đò), do kém cẩu thả và kém quan sát nên để phần cản sau xe ô tô tải đụng vào bà Nguyễn Thị L đang đi bộ phía sau bên trái xe ô tô tải, làm bà L té ngã xuống đường, xe ô tô tải lùi cán lên người bà Luyện, sau đó bị cáo đã cùng với người dân đưa bà L đi cấp cứu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bà L tử vong tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi.

Tại bản Kết luận giám định số: 4401/C09B ngày 05/11/2021 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1515/TT.21 ngày 14/10/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do Nguyễn Minh C điều khiển xe lùi bên trái chiều đi của mình và kém quan sát phía sau gây tai nạn làm chết một người, bà Nguyễn Thị L chết do đa chấn thương. Như vậy bị cáo C đã có hành vi vi phạm khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ.

Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo C đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng của công dân, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân, do đó cần xử lý bị cáo bằng một hình phạt phù hợp là cần thiết. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng.

Về nhân thân: Ngày 22/7/2009, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đình chỉ vụ án hình sự đối với Nguyễn Minh C về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; do chuyển biến tình hình tội phạm, hành vi của Nguyễn Minh C không còn nguy hiểm cho xã hội, theo quy định pháp luật mới hành vi trên không bị xử lý hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo; Xét thấy bị cáo là thành phần lao động nghèo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính đang nuôi 02 con nhỏ đang ăn học; do đó Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và quyết định áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đủ phát huy tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, giúp bị cáo sữa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo và gia đình đã bồi thường chi phí mai táng, tổn thất cho gia đình bị hại số tiền 265.000.000đ. Gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu vấn đề gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 xe ô tô tải biển số 62C-041.44; Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người quản lý, sử dụng hợp pháp là bà Nguyễn Thị Thu T là phù hợp.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử; Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Xét cần buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/4/2022).

Giao bị cáo Chơn cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo C cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo C thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo C cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án.

[2] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

[4] Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Chơn tại phiên tòa.

Cỡ chữ