- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HS-ST Ngày: 17 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Đông và ông Lương Đình Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên – Thư ký viên TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN P – Sinh năm 1974.
Nơi sinh: Xã PK, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: Thôn ĐP, xã PK, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 7/12.
Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết).
Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy.
Có vợ là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1979.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 175 ngày 25 tháng 10 năm 1995 của TAND tỉnh Hải Hưng (nay là TAND tỉnh Hải Dương) xử phạt P 17 năm tù về tội Giết người. P kháng cáo, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 178 ngày 07/02/1996 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm. P chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 22/01/2012.
Tạm giữ: Không.
Tạm giam: Từ ngày 19/01/2022 đến nay tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Ông Phạm Văn Điều – Trợ giúp viên pháp ý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước – Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.
Người bào chữa có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Ông Phạm Văn Ph – Sinh năm 1965.
+ Anh Hoàng Việt Đ – Sinh năm 1993.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 16/01/2022, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 34L6 - 0359 đi từ nhà ở thôn ĐP, xã PK, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương đến thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang tìm mua ma túy sử dụng. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, P đi đến bờ sông thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt gặp và mua của một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói ma túy loại Heroine với số tiền 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, P cầm trên tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Hồi 13 giờ 25 phút cùng ngày, khi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Vạn Xuân và đường Nhân Hòa thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang phát hiện, P xuống xe bỏ chạy vào đường Nhân Hòa được khoảng 40 mét thì vứt gói ma túy vừa mua xuống đường. Ngay lúc đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang đuổi kịp, bắt giữ. Thu giữ tại vị trí mặt đường ngay tại vị trí bắt giữ P 01 gói nilon màu vàng kích thước (1 x 1,5)cm, bên trong có gói giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng. P khai nhận đó là Heroine vừa mua cất giấu để sử dụng. Quản lý của Nguyễn Văn P xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 34L6
- 0359.
Kết luận giám định số 191/KLGD-PC09 ngày 19/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn P gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,177g là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,134g Heroine, 01 mảnh nilon màu vàng, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
Heroine là chất ma túy nằm tại STT 09, Danh mục I - Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vật chứng của vụ án: 0,134g Heroine, 01 mảnh nilon màu vàng, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang quản lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 34L6-0359 quản lý của Nguyễn Văn P, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe có đăng ký mang tên anh Trần Thế Vượt, sinh năm 1984, trú tại: Khu Cẩm Khê, phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Năm 2010, chị Nguyễn Thị Lập (là vợ bị cáo P) đã mua lại chiếc xe nêu trên của anh Trần Thế Vượt. Chị Lập không biết việc P sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy. Ngày 14/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang đã trả lại chiếc xe cho chị Lập.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 28/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa xác định hành vi của bị cáo P thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo tội danh và điều luật như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố là đúng tuy nhiên đề nghị HĐXX căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ chỉ ở trên mức khởi điểm một lượng nhỏ và hoàn cảnh của bị cáo là đối tượng hộ cận nghèo, đang mắc bệnh xã hội xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất từ 12 tháng đến 13 tháng tù để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt. Ngoài ra người bào chữa đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 13 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/01/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,134g Heroine, 01 mảnh nilon màu vàng, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn P.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; Điều tra viên; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản vụ việc, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 16/01/2022, tại đường Nhân Hòa thuộc khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn P có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,177g ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật và gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo tàng trữ 0,177g ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng nên có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo thực hiện cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Nhân thân bị cáo từng bị kết án năm 1995 (đến nay đã được xóa án tích).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo P là người nghiện chất ma túy, nhận thức được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tàng trữ nhằm mục đích sử dụng do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,134g Heroine hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu vàng, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 34L6-0359, ngày 14/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Lập là phù hợp nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy, P khai mua của một người phụ nữ không quen biết, quá trình điều tra không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Đối với việc bị cáo sử dụng xe của chị Nguyễn Thị Lập, chị Lập không biết việc bị cáo P sử dụng chiếc xe đi mua ma túy nên không phải xem xét trách nhiệm.
Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 19/01/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,134g ma túy loại Heroine, 01 mảnh nilon màu vàng, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong gửi đến giám định (được niêm phong trong phong bì thư ghi số 191/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương).
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang ngày 16/5/2022).
4. Về án phí: Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn P.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Bình Giang; - Cơ quan THAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ - CA huyện Bình Giang; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hải |