- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Tấn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Toà án nhân dân huyện L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| T NH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HS-PT Ngày: 21-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Dư Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý Số 23/2022/TLST-HS ngày 27/01/2022 đối với bị cáo Phan Tấn T, do có kháng cáo của bị cáo Phan Tấn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng
* Bị cáo có kháng cáo.
Họ và tên: Phan Tấn T (thường gọi là Th), sinh năm 1982 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số 75 đường S, Phường 7, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tấn Tr (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm: 1947; Vợ là Phạm Thị Ngọc Th, sinh năm: 1979; bị cáo có ba người con, con lớn nhất sinh năm: 2002; con nhỏ nhất sinh năm: 2018.
Tiền án: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” tại Bản án số 20/2018/HSST ngày 21/3/2018 đến ngày 18/01/2020 bị cáo đã thi hành xong bản án.
Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 8 năm 2021, Phan Tấn T sử dụng xe ô tô hiệu KIA, biển kiểm soát 49X-5845 cùng với người tên Hùng (là người thuê Thịnh) vận chuyển 12 hộp gỗ Dổi, khối lượng 1,315 m3 đi trên đường T, từ xã Đ, huyện L đến thành phố Đ. Khi đi tới tọa độ X: 0567584, Y: 0139192, thuộc địa phận thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì bị lực lượng Kiểm Lâm huyện L phát hiện và bắt giữ.
Biên bản vi phạm hành chính số 006151/BB-VPHC ngày 24/8/2021 của Hạt kiểm lâm huyện L đã xác định hành vi của Phan Tấn T là hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật khi bị cáo không xuất trình được tài liệu chứng minh nguồn gốc hợp pháp của 1,315 m3 gỗ Dổi bị cáo đã vận chuyển.
Bản án số 20/2018/HSPT ngày 21/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Phan Tấn T 03 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 18/1/2020 bị cáo đã thi hành xong bản án này theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 01/GCN ngày 18/1/2020 của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng.
Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận hành vi vận chuyển gỗ trái phép.
Biên bản xác định hiện trường ngày 10/9/2021 đã xác định vị trí Phan Tấn T sử dụng xe ô tô BKS 49 X- 5845 bốc lên xe 12 phách hộp gỗ xẻ Dổi – nhóm 3 và vị trí bắt giữ thuộc địa giới hành chính thị trấn L, huyện L
Tại bản kết luận số 10/KL –HDĐGTS ngày 20/9/2021 xác định giá trị thiệt hại về lâm sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L thì số lâm sản mà T vận chuyển trái phép có khối lượng là 1,315 m3 gỗ xẻ Dổi – nhóm 3. Trị giá tính được bằng tiền là 11.340.338đ (mười một triệu ba trăm bốn mươi ngàn ba trăm ba mươi tám đồng)
Về vật chứng: Qúa trình điều tra, Hạt kiểm lâm huyện L đã tạm giữ 01 xe ô tô hiệu KIA, biển kiểm soát 49X – 5845 và 12 phách gỗ Giổi – nhóm 3 có khối lượng là 1,315 m3.
Cáo trạng số 24/CT/VKSLD ngày 03/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Tấn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết là BLHS 2015).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Toà án nhân dân huyện L đã xử;
Tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 53 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo Phan Tấn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/12/2021 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Phan Tấn T có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Toà án nhân dân huyện L đã tuyên xử đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm (sau đây viết tắt là HĐXX) xem xét cho bị cáo chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho hưởng án treo.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 12 tháng cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Toà án trong hạn luật định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung bị cáo kháng cáo xin chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho hưởng án treo.
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 8 năm 2021, Phan Tấn T sử dụng xe ô tô hiệu KIA, biển kiểm soát 49X-5845 cùng với người tên Hùng (là người thuê Thịnh) vận chuyển 12 hộp gỗ Dổi, khối lượng 1,315 m3 đi trên đường T, từ xã Đ, huyện L đến thành phố Đ. Khi đi tới tọa độ X: 0567584, Y: 0139192, thuộc địa phận thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì bị lực lượng Kiểm Lâm huyện L phát hiện và bắt giữ.
Biên bản vi phạm hành chính số 006151/BB-VPHC ngày 24/8/2021 của Hạt kiểm lâm huyện L đã xác định hành vi của Phan Tấn T là hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật khi bị cáo không xuất trình được tài liệu chứng minh nguồn gốc hợp pháp của 1,315 m3 gỗ Dổi bị cáo đã vận chuyển.
Tại bản kết luận số 10/KL –HDĐGTS ngày 20/9/2021 xác định giá trị thiệt hại về lâm sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L thì số lâm sản mà T vận chuyển trái phép có khối lượng là 1,315 m3 gỗ xẻ Dổi – nhóm 3. Trị giá tính được bằng tiền là 11.340.338đ (mười một triệu ba trăm bốn mươi ngàn ba trăm ba mươi tám đồng). Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện L đã xét xử. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo xin được cải tạo không giam giữ hoặc án treo; HĐXX thấy rằng, khi quyết định hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo 09 tháng tù là thể hiện nghiêm minh của pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 BLHS 2015 chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo. HĐXX thấy rằng đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Do điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên HĐXX xét thấy, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, chấp nhận kháng của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Tấn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Toà án nhân dân huyện L.
Xử:
1.Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản”.
2.Về hình phạt:
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Tấn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Phan Tấn T cho Ủy ban nhân dân Phường 7, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo cư trú để theo dõi giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương để theo dõi giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Tấn T không phải chịu phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện L (02); - VKSND huyện L (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện L (01); - Cơ quan THAHS CA huyện L (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (03); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Hồng |