- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHST Bùi Thị H - Đoàn Trọng H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Đoàn Trọng H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Lẫy
Bà Hoàng Thị Chính
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 487/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H; nơi cư trú: Tổ H 1, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đoàn Trọng H; nơi cư trú: Tổ H 1, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Trọng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện CH, thành phố Hải Phòng vào ngày 07 tháng 7 năm 2011. Sau khi kết hôn, chị và anh H về sống chung tại Tổ H 1, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách hai bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên, khuyên giải để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả mà ngày càng căng thẳng hơn. Đến nay chị xác định tình cảm của chị đối với anh Đoàn Trọng H không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng và trầm trọng, không thể đoàn tụ được nữa nên chị đề nghị Toà án nhân dân quận K giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Trọng H.
Về con chung: Chị và anh Đoàn Trọng H có 02 con chung là Đoàn Minh T, sinh ngày 01/12/2011 và Đoàn Tuấn P, sinh ngày 29/01/2021. Khi ly hôn, chị nhận nuôi con chung là Đoàn Tuấn P, để anh H nuôi con chung là Đoàn Tuấn Minh đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản và công nợ của vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Anh Đoàn Trọng H là bị đơn, hiện cư trú tại Tổ H 1, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Đoàn Trọng H không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Đoàn Trọng H. Chị Bùi Thị H đã được Tòa án triệu tập lần 2 nhưng chị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Đoàn Trọng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện CH, thành phố Hải Phòng ngày 07 tháng 7 năm 2011. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Căn cứ vào lời khai của chị Bùi Thị H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định chị Bùi Thị H và anh Đoàn Trọng H trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bùi Thị H và anh Đoàn Trọng H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H là phù hợp pháp luật và thực tế vụ kiện, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Đoàn Trọng H có 02 con chung là Đoàn Tuấn Minh, sinh ngày 01/12/2011 và Đoàn Tuấn P, sinh ngày 29/01/2021. Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Chị Bùi Thị H và anh Đoàn Trọng H đều có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử đã thận trọng xem xét và thấy rằng hiện nay cháu Đoàn Tuấn P còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi do vậy cần giao cháu Tuấn P cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Đoàn Tuấn Minh hiện đã trên 10 tuổi, cháu có nguyện vọng sống chung cùng với bố là Đoàn Trọng H, do vậy Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Đoàn Tuấn Minh cho anh Đoàn Trọng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản.
Về án phí: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Đoàn Trọng H.
2. Về con chung: Giao con chung là Đoàn Tuấn Minh, sinh ngày 01/12/2011 cho anh Đoàn Trọng H, giao con chung là Đoàn Tuấn P, sinh ngày 29/01/2021 cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và công nợ: Chị Bùi Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003682 ngày 17 tháng 8 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng, chị Bùi Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H và anh Đoàn Trọng H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận K; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận K; - UBND thị trấn C, huyện CH, thành phố Hải Phòng (ĐKHK: 07/7/2011); - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thông |