- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hà ly hôn Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà được ly hôn với anh Trần T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH H ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST Ngày 26 - 7 - 2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Hóa
Bà Nguyễn Thị Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện D-H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 67/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXX-ST ngày 21/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2021/QĐST - HNGĐ ngày 08/7/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hà - sinh năm 1985 HKTT: thôn C, xã H, huyện D, tỉnh H. Tạm trú tại: thôn X, xã H, huyện D, tỉnh H.
Có mặt tại phiên tòa
- Bị đơn: Anh Trần T
- sinh năm 1975 Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện D, tỉnh H.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 18/02/2022, bản tự khai ngày 26/4/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà trình bày: chị và anh Trần T tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001, đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã H. Giai đoạn đầu chung sống hạnh phúc. Đến năm 2007, giữa vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ với chị trong cuộc sống, có những lời nói xúc phạm và hành động đánh đập chị. Nhiều lần chị cố gắng tạo điều kiện nhưng anh T vẫn không thay đổi bản tính, gia đình không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân đầy áp lực, không tìm được tiếng nói chung. Tình cảm giữa chị và anh T đã không còn, nên chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 5/2021 cho đến nay, chị yêu cầu xin ly hôn với bị đơn anh Trần T.
Về con chung: có 02 con chung là Trần D - sinh năm 2002 và Trần K - sinh ngày 02/10/2006. Cháu D đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không có yêu cầu gì. Chị đồng ý giao cháu K anh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: chị xác định chị và anh T không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh Trần T đến Tòa án làm việc, nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Trần T; con chung: có 02 con chung là Trần D - sinh năm 2002 và Trần K
- sinh ngày 02/10/2006. Cháu D đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không có yêu cầu gì. Chị giao cháu D cho anh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; tài sản chung và nợ chung: chị xác định giữa chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung. Bị đơn anh Trần T vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D- H phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn anh Trần T vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà xin ly hôn với anh Trần T. Về con chung: Cháu Trần D đã trưởng thành, khỏe mạnh và không có yêu cầu gì nên không xem xét. Giao cháu Trần K cho anh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; tài sản chung và nợ chung: chị Hà xác định không có nên không xem xét. Về án phí: chị Hà phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Ngọc Thông.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hà và anh Trần T tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001, đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã H, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19/2003 ngày 25/4/2003 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, theo chị Hà nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ với chị Hà trong cuộc sống, có những lời nói xúc phạm và hành động đánh đập chị Hà. Chị Hà không còn chung sống với anh T từ tháng 5/2021 cho đến nay. Do đó, tình cảm chị Hà dành cho anh T không còn. Tại biên bản xác minh ngày 27/4/2022, bà Tạ Thị Hồng Liên – Công chức Hộ tịch - Tư pháp của Ủy ban nhân dân xã H thể hiện: Địa phương không có T tin về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Hà và anh T. Anh Trần T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh T không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, anh T không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa chị Hàvà anh T đã không còn tình cảm yêu thương gì với nhau, dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà được ly hôn với anh Trần T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về con chung: Chị Hà và anh T có 02 con chung là Trần D - sinh năm 2002 và Trần K - sinh ngày 02/10/2006. Cháu D đã trưởng thành, khỏe mạnh và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hiện tại, anh T đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K và chị Hà đồng ý giao cháu K cho anh T, cũng như nguyện vọng cháu K muốn ở với anh T, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu D nên cần để anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu K là phù hợp với pháp luật.
[4]. Về tài sản chung: chị Hà xác định giữa chị và anh T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về nợ chung: chị Hà xác định giữa chị và anh T không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: chị Hà phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà được ly hôn với anh Trần T.
[2]. Về con chung: Giao con chung là Trần K - sinh ngày 02/10/2006, cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Hàcó quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị Hà, anh T có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung: không có.
[4]. Về nợ chung: không có.
[5]. Về án phí: chị Nguyễn Thị Hà nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà chị Hà đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0007743 ngày 14/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D-H; chị Hà đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - VKSND huyện Diên Khánh; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh; - Ủy ban nhân dân xã H (nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | Vũ Thị Kim Vinh |