- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính - Lâm Thị S"
- Tòa quyết gì? Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 40/2022/DS-ST Ngày: 30 - 6 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Trọng Điền;
2. Ông Huỳnh Mộc Khải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 40/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2022/QĐXXST-DS ngày 30/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2022/QĐST-DS ngày 14/6/2022 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (VPB SMBC FC);
Địa chỉ: Tầng 2, Tòa Nhà Rê Tower, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu Ý, sinh năm 1996, nơi cư trú: F2- 73, đường Nguyễn Thị Sáu, Quận C, thành phố Cần Thơ;
Địa chỉ liên hệ: Đường cầu Kênh 1, ấp Mỹ An, xã V, thành phố K, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 24/UQTA-XLTD.22 ngày 24/3/2022); vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lâm Thị S, sinh năm 1976, nơi cư trú: Tổ 1, khóm V1, phường N, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (VPB SMBC FC) (viết tắt Công ty tài chính) có ông Trần Hữu Ý đại diện trình bày: Ngày 20/02/2020, bà S có ký kết hợp đồng tín dụng số 20200220-9936317 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (viết tắt là Công ty tài chính) vay số tiền 32.250.000 đồng; lãi suất 5%/tháng; mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận bà S có trách nhiệm thanh toán số tiền 58.427.725 đồng gồm gốc và lãi; trả liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu trả mỗi tháng 2.472.500 đồng, tháng cuối cùng trả 4.563.059 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 05/4/2020. Thực hiện hợp đồng bà S đã nhận đủ số tiền tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 2 lần, số tiền 4.808.000 đồng. Kể từ ngày 30/3/2020 đến nay bà S không thanh toán cho Công ty tài chính mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Do đó Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC yêu cầu bà S trả toàn bộ nợ gốc và lãi số tiền 53.619.725 đồng gồm gốc số tiền 31.525.313 đồng; lãi số tiền 22.094.412 đồng. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Văn bản Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng ngày 19/02/2020; Bản kế hoạch trả nợ; Lịch sử thanh toán và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lâm Thị S có nhận được Thông báo thụ lý số 40/TB-TLVA ngày 07/4/2022 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 195/TB-TA ngày 08/4/2022 của Tòa án nhưng không tham gia tố tụng. Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng. Tại phiên tòa nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt làn thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng việc vay nợ của các bên trên cơ sở tự nguyện, có hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật, trong thời gian thực hiện hợp đồng bà S vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó Công ty tài chính khởi kiện yêu cầu bà S trả nợ là có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 Nghị quyết 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định vè lãi, lãi suất, phạt vi phạm đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 53.619.725 đồng gồm gốc số tiền 31.525.313 đồng; lãi số tiền 22.094.412 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là bà Lâm Thị S có nơi cư trú tại thành phố K, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về xác lập hợp đồng vay tài sản:
Xét văn bản đề nghị vay vốn khiêm Hợp đồng tín dụng số 20200220-9936317 ngày ngày 19/02/2020 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Về vốn và lãi vay:
Căn cứ Văn bản đề nghị vay vốn khiêm Hợp đồng tín dụng số 20200220-9936317; Bảng kế hoạch trả nợ và Lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC cho bà S vay số tiền vay số tiền 32.250.000 đồng; lãi suất 5%/tháng; mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận bà S có trách nhiệm thanh toán số tiền 58.427.725 đồng gồm gốc và lãi; trả liên tiếp trong vòng 24 tháng. Bắt đầu trả từ ngày 05/4/2020. Thực hiện hợp đồng bà S đã nhận đủ số tiền tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 2 lần, số tiền 4.808.000 đồng. Do bà S không trả nợ sau ngày 30/3/2020 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, Công ty tài chính yêu cầu bà S trả nợ số vốn và lãi còn lại theo Hợp đồng số tiền 53.619.725 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 xét chấp nhận. Buộc bà S có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC số tiền 53.619.725 đồng gồm vốn gốc 31.525.313 đồng và lãi 22.094.412 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.340.500 đồng. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.681.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (VPB SMBC FC). Buộc bà Lâm Thị S có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (VPB SMBC FC) số tiền 53.619.725 đồng gồm vốn gốc 31.525.313 đồng và lãi 22.094.412 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (VPB SMBC FC) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 1.340.500 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002075 ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng X SMBC (VPB SMBC FC).
Bà Lâm Thị S phải chịu 2.681.000 (hai triệu, sáu trăm, tám mươi một nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |