vanban.org

Bản án 40/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 02/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam đối với ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "HH-V"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/DS-ST
Ngày: 16/9/2022
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Hƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sỹ

Ông Nguyễn Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên toà: Bà Dƣơng Thị Phƣơng Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 141/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2022/QĐST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần H Việt Nam (Tên viết tắt: M). Địa chỉ trụ sở: Số 54A N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Tầng 2, số 224 Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L1 - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q - Sinh năm 1974; Chức vụ: Tổng Giám Ngân hàng Quản lý Tín dụng - Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam (Giấy ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng và thi hành án số 3897/2020/GU-TGĐ12, ngày 20/7/2020 của Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam).

Người đại diện theo ủy quyền lại:

+ Ông Nguyễn Nhƣ T1, sinh năm 1982; Chức vụ: Chuyên viên chính - Phòng xử lý nợ khách hàng cá nhân Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam (Vắng mặt);

+ Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1978; Chức vụ: Chuyên viên chính - Phòng xử lý nợ khách hàng cá nhân Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam (Vắng mặt);

+ Ông Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1987; Chức vụ: Giám đốc Tố tụng và Mua bán nợ - Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Tầng 2, số 224 Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

(Giấy ủy quyền nộp đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án số 7103/2021/GUQ-TGDD12 ngày 15/10/2021 của Tổng Giám Ngân hàng Quản lý Tín dụng - Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1986; Địa chỉ: K138/H47/04/14/31 Hoàng Văn Thái, tổ 37, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt tại phiên tòa thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam trình bày:

- Quá trình ký kết Hợp đồng tín dụng:

Ngày 03/8/2017, Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng (là Bên cho vay, gọi tắt là MSB) với ông Nguyễn Văn V (là Bên vay) đã ký Hợp đồng cho vay số 03.08/2017/HĐCV với các nội dung sau: Số tiền vay: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn); Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Mua sắm đồ gia dụng; Lãi suất cho vay: Theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại Khế ước nhận nợ/Giấy nhận nợ; Lãi suất nợ quá hạn: Khoản nợ gốc quá hạn phải chịu lãi suất quá hạn tính trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Phương thức tính lãi: Tiền lãi được tính trên dư nợ thực tế, thời gian duy trì dư nợ thực tế và lãi suất tính theo tỷ lệ %/năm; Lịch trả nợ gốc, lãi: Thực hiện theo kỳ hạn trả nợ gốc, lãi cụ thể được các bên thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ/Giấy nhận nợ

- Quá trình thực hiện hợp đồng:

Ngày 03/8/2017, Ngân hàng MSB đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn V theo Khế ước nhận nợ số 03.8/2017/CVCN-NVV số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn) đúng theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kết.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, ông Nguyễn Văn V không thực hiện đúng cam kết trả nợ dẫn đến khoản vay bị quá hạn kéo dài. Mặc dù, Ngân hàng MSB đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho ông Nguyễn Văn V nhưng ông Nguyễn Văn V đều vi phạm nghĩa vụ trả nợ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng MSB.

Tính đến ngày 10 tháng 8 năm 2022, tổng dư nợ của ông Nguyễn Văn V tại Ngân hàng MSB là: 159.462.106 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn một trăm lẻ sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc: 81.488.539 đồng; Nợ lãi trong hạn: 66.645.881 đồng; Nợ lãi quá hạn: 11.327.686 đồng.

- Nội dung yêu cầu:

+ Buộc ông Nguyễn Văn V có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng MSB toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo Hợp đồng đồng cho vay đã ký giữa MSB với ông Nguyễn Văn V. Tổng số tiền tính đến ngày 16 tháng 9 năm 2022, ông Nguyễn Văn V còn nợ MSB là 162.163.113 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu một trăm sáu mươi ba nghìn một trăm mười ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 81.488.539 đồng (Tám mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi chín đồng); Nợ lãi trong hạn: 68.446.552 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi hai đồng); Nợ lãi quá hạn: 12.228.022 (Mười hai triệu hai trăm hai mươi tám nghìn không trăm hai mươi hai đồng).

+ Kể từ ngày 17/9/2022, ông Nguyễn Văn V còn tiếp tục phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn V vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu trình bày quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V không tham gia hòa giải và không tham gia tố tụng tại phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt không có lý do của mình.

- Ý kiến về việc nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của MSB đối với ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam với bị đơn ông Nguyễn Văn V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Văn V được Tòa án triệu tập hợp lệ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Nguyễn Văn V.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam với bị đơn ông Nguyễn Văn V thì thấy:

Theo các tài liệu, chứng cứ MSB cung cấp tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu thể hiện:

Ngày 03/8/2017, ông Nguyễn Văn V ký Hợp đồng cho vay số 03.08/2017/HĐCV với Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn), Mục đích sử dụng vốn vay: Mua sắm đồ gia dụng, nguồn trả nợ từ lương.

Xét yêu cầu khởi kiện của MSB thì thấy:

Tại phiên tòa, Ngân hàng MSB yêu cầu ông Nguyễn Văn V trả số tiền còn nợ tính đến ngày 16/9/2022 là 162.163.113 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu một trăm sáu mươi ba nghìn một trăm mười ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 81.488.539 đồng (Tám mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi chín đồng); Nợ lãi trong hạn: 68.446.552 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi hai đồng); Nợ lãi quá hạn: 12.228.022 (Mười hai triệu hai trăm hai mươi tám nghìn không trăm hai mươi hai đồng). Kể từ ngày 17/9/2022, ông Nguyễn Văn V còn phải chịu lãi suất phát sinh trên dư nợ gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ.

Xét thấy giao dịch dân sự giữa Ngân hàng MSB với ông Nguyễn Văn V là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật để các bên ký kết hợp đồng thực hiện. Theo Hợp đồng cho vay số 03.08/2017/HĐCV ngày 03/8/2017, mặc dù chưa đến hạn trả nợ ghi trong hợp đồng nhưng do quá trình vay vốn, ông Nguyễn Văn V đã vi phạm Điều 9 Hợp đồng cho vay số 03.08/2017/HĐCV ngày 03/8/2017 nên việc Ngân hàng MSB khởi kiện là có cơ sở, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng MSB đối với ông Nguyễn Văn V theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, buộc ông Nguyễn Văn V phải thanh toán cho MSB số tiền còn nợ tính đến ngày 16/9/2022 là 162.163.113 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu một trăm sáu mươi ba nghìn một trăm mười ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 81.488.539 đồng (Tám mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi chín đồng); Nợ lãi trong hạn: 68.446.552 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi hai đồng); Nợ lãi quá hạn: 12.228.022 (Mười hai triệu hai trăm hai mươi tám nghìn không trăm hai mươi hai đồng) và lãi tiếp tục tính từ ngày 17/9/2022 đến khi ông Nguyễn Văn V thanh toán hết số nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Nguyễn Văn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 162.163.113 đồng x 5% = 8.108.155 đồng (Tám triệu một trăm linh tám nghìn một trăm năm mươi lăm đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 3.504.396 đồng (Ba triệu năm trăm linh bốn nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000088 ngày 12/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (Ghi chú: Vụ án này trước đây bị hủy, sau đó thụ lý lại).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng: - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;

- Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam đối với ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử:

1. Buộc ông Nguyễn Văn V phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 16/9/2022 của Hợp đồng cho vay số 03.08/2017/HĐCV ngày 03/8/2017 như sau:

Nợ gốc: 81.488.539 đồng (Tám mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn năm trăm ba mươi chín đồng); Nợ lãi trong hạn: 68.446.552 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi hai đồng); Nợ lãi quá hạn: 12.228.022 (Mười hai triệu hai trăm hai mươi tám nghìn không trăm hai mươi hai đồng). Tổng cộng 162.163.113 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu một trăm sáu mươi ba nghìn một trăm mười ba đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (kể từ ngày 17/9/2022), ông Nguyễn Văn V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí:

3.1. Buộc ông Nguyễn Văn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 8.108.155 đồng (Tám triệu một trăm linh tám nghìn một trăm năm mươi lăm đồng).

3.2. Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 3.504.396 đồng (Ba triệu năm trăm linh bốn nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000088 ngày 12/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

4. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ