- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HSST Ngày 19 – 8 – 2021 |
N H Â N D A N H
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hồng Thái; Ông Lê Xuân Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 07 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 42/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: Đội 8, T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Bố đẻ: Đỗ Văn N (đã chết); Mẹ đẻ: Vũ Thị D, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Gia đình có 4 anh, chị, em, T là con thứ nhất; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/05/2021, bị tạm giam từ ngày 22/05/2021 tại nhà tạm giữ Công an huyện Trực Ninh, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/05/2021, T cầm theo 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đi bộ từ nhà đến xã Việt Hùng, huyện Trực Ninh mục đích tìm mua ma túy để sử dụng (T nghiện ma túy). Khi đến đoạn đường trục xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, T nhờ xe của một người đi đường không quen biết đến khu vực cầu chợ Lạc thuộc xóm Bình Minh 1, xã Việt Hùng, huyện Trực Ninh thì xuống xe. Đến nơi T gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở chân cầu, nghĩ người này bán ma túy, T lại gần hỏi: “Có đá không để em quả hai trăm”. Hiểu ý T hỏi mua ma túy đá với giá hai trăm nghìn đồng, người đàn ông trả lời: “Có, đưa tiền đây”. T đưa 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) cho người đàn ông này, người đàn ông nhận tiền từ T và đưa lại cho T 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T nhận gói nilon trên tồi cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, sau đó đi bộ về tìm nơi sử dụng. Khi T đi về đến khu vực ngã ba đường tỉnh lộ 488B giao với trục đường xã Liêm Hải thuộc đội 16 Trực Liêm, xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh thì bị tổ công tác Công an huyện Trực Ninh phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T khai nhận đây là gói ma túy đá của T vừa mua về để sử dụng, được niêm phong ký hiệu M.
Bản giám định số: 642/GĐKTHS ngày 22/05/2021 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Methamphetamine, Khối lượng mẫu M: 0,619 gam.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.
Tại cơ quan điều tra Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng số 38/QĐ-KSĐT ngày 21 tháng 7 năm 2021 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo Đỗ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX, tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Đỗ Văn T từ 15 tháng đến tháng 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Methamphetamine đã thu của Đỗ Văn T.
Bị cáo Đỗ Văn T đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; Lời khai của người làm chứng; Biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/05/2021 Đỗ Văn T đã có hành vi cất giấu chất ma túy tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc có trọng lượng 0,619 gam là Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cũng giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Methamphetamine đã thu của Đỗ Văn T trong quá trình điều tra.
Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/05/2021.
2. Vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Methamphetamine đã thu của Đỗ Văn T có trong bì thư số 642/GĐKTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 43/THA ngày 27 tháng 7 năm 2021 giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
3. Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh Nam Định; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã L, huyện T; - Lưu HSVA + VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Thu |