- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thị Lý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 40/2021/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 17-11-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Kính
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Tiến Đạt;
Ông Lường Khắc Tiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2021/TLST - HS ngày 08 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 40/2021/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Đào Thị L, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1981 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm Th, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Huy Đ, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956 bị cáo có chồng là Nguyễn Toàn Th, sinh năm 1978 và có 04 con; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án. Ngày 13/6/2017 bị Toà án nhân dân huyện Mai Châu xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tại bản án số 12/2017/HSST (đang được hoãn thi hành án do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi) nhân thân: Ngày 15/5/2007 bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc; Ngày 27/4/2010 bị Toà án nhân dân huyện Mai Châu xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tại bản án số 11/2010/HSST; bị cáo bị tạm giữ ngày 14/6/2021 chuyển tạm giam ngày 23/6/2021. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 14/6/2021 tổ công tác gồm Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự
- Kinh tế - Ma túy Công an huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Công an xã Phú Thanh huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và Công an xã Vạn Mai huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đến nhà của Đào Thị L thuộc xóm Th, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình và yêu cầu Đào Thị L nếu có tàng trữ trái phép chất ma túy, đồ vật, hàng cấm thì tự giác giao nộp. Sau khi làm việc cùng tổ công tác, Đào Thị L đã tự giác giao nộp cho tổ công tác gồm: 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 26 (hai mươi sáu) viên nén màu hồng và 4 (bốn) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, Đào Thị L khai nhận đó là ma túy của mình tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản niêm phong vật chứng đối với Đào Thị L và dẫn giải đối tượng cùng vật chứng về Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình để tiếp tục điều tra làm rõ
Tại Cơ quan điều tra Đào Thị L khai nhận: Tối ngày 12/6/2021, Đào Thị L đang ở nhà tại xóm Th, xã V thì có một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ đến nhà hỏi L mua thuốc lá, và hỏi L có mua hàng không, L hiểu là người đó hỏi có mua ma túy không. L hỏi lại là có nhiều không, người đàn ông trả lời có 30 viên ma túy tổng hợp và 01 gói Heroine, lúc này L đồng ý mua ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. L đã đưa số tiền là 1.000.000 (một triệu) đồng và được người đàn ông đó đưa cho số ma túy trên. Sau khi mua được ma túy, L đã cất số ma túy này vào ngăn bàn trang điểm trong phòng ngủ, đến khoảng 23 giờ cùng ngày Đào Thị L lấy gói Heroine mua được ra chia thành 06 gói nhỏ gói vào giấy bạc màu trắng với mục đích chia nhỏ để dễ sử dụng và dễ bán, sau đó L lấy 30 viên ma túy tổng hợp để trong gói nilon màu trắng, đến ngày 13/6/2021 Đào Thị L lấy 01 gói Heroine ra sử dụng, đến chiều ngày 14/6/2021 khi đang ở nhà thì có một người đàn ông L không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ đến nhà hỏi L mua Heroine để sử dụng, L đồng ý bán 01 gói Heroine cho người đàn ông này với giá là 100.000 (một trăm nghìn) đồng, bán ma túy xong người đó đi đâu L không biết, sau đó Đào Thị L lấy 04 viên ma túy tổng hợp ra sử dụng. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 14/6/2021 tổ công tác của Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Công an huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đến nhà gặp và yêu cầu L có tàng trữ trái phép chất ma túy thì tự giác giao nộp, ngay lúc đó Đào Thị L đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy còn lại do mình cất giấu cho tổ công tác. Đào Thị L khai nhận tàng trữ ma túy để sử dụng và bán kiếm lời
Tại Kết luận giám định số: 186/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 20/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Các dạng viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong ghi tên Đào Thị L có khối lượng 2,57 gam là ma tuý, loại Methamphetamine; Chất bột màu trắng trong 04 gói vật chứng thu giữ của Đào Thị L có khối lượng 0,12 gam là ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy Đào Thị L tàng trữ là 2,69 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKS-HS ngày 08/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Đào Thị L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Đào Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đào Thị L từ 36 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/6/2021.
Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 12/2017/HSST ngày 13/6/2017 đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên:
- Tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
- Tịch thu nộp ngân sách số tiền 100.000 đồng do Đào Thị L bán ma tuý mà có.
Về các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông đã mua ma tuý từ bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên chưa đủ căn cứ để mở rộng điều tra, do dó chưa đủ căn cứ đề nghị xử lý.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo có ý kiến đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố, nguyên nhân vi phạm pháp luật là không làm chủ được bản thân do nghiện ma túy, tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo mong được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 14/6/2021 tại nhà của mình ở xóm Th, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Đào Thị L đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,57 gam Methamphetamine và 0,12 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân và để bán kiếm lời. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Đào Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Bản thân bị cáo đã bị kết án 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo được hoãn chấp hành án do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa lỗi lầm, mà trái lại tiếp tục phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do bị cáo bị kết án 10 năm tù tại bản án số 12/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, bị cáo chưa chấp hành, chưa được xóa án tích. Bị cáo là người có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, không có điều kiện thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, thấy cần thiết phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về vật chứng vụ án: Đối với chất ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000 đồng do bị cáo bán ma tuý mà có, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo ngày 12/6/2021 và người mua ma tuý với bị cáo ngày 14/6/2021, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, do đó chưa đủ căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Thị L phải nộp án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đào Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Đào Thị L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 14/6/2021.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt 10 (mười) năm tù, được trừ 07 (bảy) tháng 03 (ba) ngày tạm giữ tại bản án số 12/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Tổng hình phạt chung bị cáo Đào Thị L phải chấp hành hai bản án là 13 (mười ba) năm tù, được trừ 07 (bảy) tháng 03 (ba) ngày đã tạm giữ, tạm giam. Thời hạn tính từ ngày 14/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa ma túy và toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định đã hoàn trả.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 05/THA ngày 29/10/2021 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Đào Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT; - VKSND huyện MC; - Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC; - Chi cục THA dân sự; - THAHS; - UBND xã V; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Bùi Văn Kính |