vanban.org

Bản án 40/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 16/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 10 năm 2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Thế A - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HS-ST
Ngày 16 - 3 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đường Ngọc Đại

Ông Nguyễn Xuân Thịnh

- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Bình Phương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại hội trường nhà văn hóa xóm Gốc Duối, thôn Đại Quang, xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2021/TLST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Thế A (tên gọi khác Tạ Văn T), sinh ngày 13 tháng 8 năm 1990; tại thôn Bắc Kế, xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn Bắc Kế, xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Tại Bản án số 52/2014/HSST ngày 16/9/2014, TAND huyện Tam Đảo xử phạt Tạ Thế A 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Án phí HSST 200.000đ (đã chấp hành xong ngày 03/11/2014), án phí dân sự trong hình sự 212.000 đồng (đã chấp hành xong 28/11/2014). Truy thu số tiền 2.500.000 đồng, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo đã có quyết định Ủy thác thi hành án số 03 ngày 04/11/2014 ủy thác cho Chi cục huyện Bình Xuyên để thực hiện việc truy thu số tiền trên. Đến nay Tạ Thế A chưa nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Tạ Thế A phải bồi thường cho chị Lê Thị Thu Hà số tiền 750.000 đồng, bồi thường cho chị Trần Thị Hương Trà số tiền 3.500.000 đồng. Đến nay, chị Hà và chị Trà không có đơn yêu cầu thi hành án.

+ Tại Bản án số: 61/2014/HSST ngày 19/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Lập xử phạt Tạ Thế A 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự trong vụ án hình sự 475.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Tạ Thế A phải bồi thường cho anh Phan Hữu Tiến số tiền 5.000.000 đồng, trả lại cho ông Lê Văn Lưu số tiền 4.500.000 đồng.

Quá trình xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch, kết quả: Tại sổ thụ lý thi hành án từ năm 2014 đến năm 2016 không có dữ liệu - tên người phải thi hành án là Tạ Thế A, sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: Xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Tại Bản án số: 71/2014/HSST ngày 20/10/2014, Tòa án nhân dân huyện Bình, xử phạt bị cáo Tạ Thế A 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại bản án số: 52/2014/HSST ngày 16/9/2014 của Tòa abs nhân dân huyện Tam Đảo buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 05 năm tù. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự trong vụ án hình sự 200.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 31/12/2014.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Tạ Thế A phải trả cho anh Nguyễn Văn Tuyên số tiền 4.000.000 đồng. A Tuyên không có đơn yêu cầu thi hành án.

Tại Quyết định tổng hợp hình phạt số: 01 ngày 26/11/2014 và Quyết định thi hành án số: 185 ngày 26/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên tổng hợp hình phạt của 03 bản án nêu trên là 06 năm 6 tháng tù. Tạ Thế A chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2020, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/10/2020, tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

+ Người làm chứng:

- A Trần Kim L, sinh năm 1981.

- A Dương Mạnh H, sinh năm 1990.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Thế A là người nghiện và sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/10/2020, Thế A đang ở nhà thì nhận được điện thoại gọi đến của Vũ Hoàng L1, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện S, thành phố Hà Nội là bạn nghiện hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy, do đang có sẵn ma túy trong người nên Thế A đồng ý và hẹn L1 tại khu vực vòng xuyến thôn Đức Cung, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên để mua bán ma túy. Tiếp đó, Thế A hỏi mượn xe mô tô BKS: 88G1 – 455.73 của anh Tạ Oanh D (là em ruột của Thế A) để đi có việc thì anh D đồng ý. Sau đó, Thế A một mình điều khiển xe mô tô của anh D đến điểm hẹn mục đích để đi bán ma túy cho L1. Khi gặp nhau, L1 đưa cho Thế A 500.000 đồng là tiền để mua ma túy, Thế A cầm tiền rồi bán cho L1 01 túi ma túy đá thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại lòng bàn tay phải của Vũ Hoàng L1 01 túi nilon màu trắng viền xanh, bên trong chứa các tinh thể dạng đá. L1 tự khai nhận đây là túi ma túy vừa mua được của Thế A mà có, mục đích để sử dụng cho bản thân, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.

- Thu tại lòng bàn tay phải của Tạ Thế A số tiền 500.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng). Thế A tự khai nhận đây là tiền bán ma túy cho L1 mà có.

- Tạm giữ của Thế A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 8110 màu đen và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88G1 – 455.73; tạm giữ của L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Q.VITA màu vàng đã cũ.

Tại kết luận giám định số: 2833/KLGĐ ngày 03/11/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận:

“Tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0545g, loại Methamphetamine”.

Hoàn lại đối tượng giám định còn lại sau giám định A1= 0,0243g mẫu và toàn bộ bao gói.

Về nguồn gốc ma túy: Tạ Thế A khai nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên mua về để sử dụng, có người hỏi mua thì sẽ bán kiếm lời. Ngày 27/10/2020, Thế A mua được 01 túi ma túy đá của một người đàn ông không quen biết tại khu vực gầm cầu vượt cao tốc thuộc xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 400.000 đồng. Thế A đã sử dụng một phần, phần còn lại bán cho L1 với giá 500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng bán ma túy cho Thế A, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

- Đối với đối tượng tự khai là Vũ Hoàng L1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được đối tượng nào có nhân thân lai lịch như trên, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 09/CT - VKSPY ngày 20 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo Tạ Thế A (tên gọi khác Tạ Văn T) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tạ Thế A (tên gọi khác Tạ Văn T) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 10 năm 2020.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy A1= 0,0243g mẫu và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại; Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8110 màu đen đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Q.VITA màu vàng đã cũ; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến bổ sung gì khác và không có ý kiến tham gia tranh luận.

Bị cáo A nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ân hận, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tạ Thế A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản sự việc; biên bản thu giữ vật chứng; kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Hồi 13 giờ 55 phút ngày 29/10/2020 tại khu vực thôn Đức Cung, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, Tạ Thế A có hành vi bán trái phép 0,0545g Methamphetamine cho một đối tượng tự khai là Vũ Hoàng L1, sinh năm 1988 trú tại: Xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, tỉnh Hà Nội với giá 500.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Thế A như trên đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Do đó, bản cáo trạng số: 09/CT - VKSPY ngày 22 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo A phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đó là tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo A là người có nhân thân xấu, trước khi phạm tội bị cáo đã có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản cụ thể: Ngày 16/9/2014 bị TAND huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 19/9/2014 bị TAND huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 20/10/2014 bị TAND huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt khi quyết định thi hành án là 06 năm 6 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2020. Chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội mà còn tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật và ham muốn kiếm tiền bất chính nhằm mục đích tiêu sài cá nhân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm buộc bị cáo phải cách ly khỏi cuộc sống cộng đồng để chấp hành hình phạt tù với mức án như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên căn cứ vào nhân thân, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

- Tiêu hủy A1= 0,0243g mẫu và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Q.VITA màu vàng đã cũ, là phương tiện các đối tượng sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 88G1 – 455.73, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Tạ Oanh D, sinh năm 1996 trú tại: Xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh D không biết, không liên quan đến việc Thế A đi bán ma túy ngày 29/10/2020. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phúc Yên đã trả lại chiếc xe trên cho anh D nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với đối tượng tự khai là Vũ Hoàng L1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được đối tượng nào có nhân thân lai lịch như trên. Do vậy, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

- Đối với người đàn ông không quen biết tại khu vực gầm cầu vượt cao tốc thuộc xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 400.000 đồng. Thế A đã sử dụng một phần, phần còn lại bán cho L1 với giá 500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng bán ma túy cho Thế A, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 10 năm 2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tiêu hủy A1= 0,0243g mẫu và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại.

- Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8110 màu đen đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Q.VITA màu vàng đã cũ.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Tất cả vật chứng và số tiền nêu trên đều có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/ 01/ 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Tạ Thế A (Tạ Văn T) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ