vanban.org

Bản án 40/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Luật Phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/ 2021/ HS - ST
Ngày: 28 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân

Ông Trần Quốc Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Diệu Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/ 2021/ TLST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/ 2021/ QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị H, sinh ngày 01/6/1971, tại: thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khầu thường trú: Tổ 2, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Đức Vịnh và bà Nguyễn Thị Mùi (đều đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Minh Cường - sinh năm 1970, có 01 con sinh năm 2004. Tiền án: Có 01 tiền án, bản án số 31/2016/HS-ST ngày 16/3/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái nguyên xử phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc” (ngày 24/02/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền); tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 126/ HSST ngày 10/4/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”; Bản án số 13/2021/HS-ST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo bản án này từ ngày 11/6/2021 cho đến nay). (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cù Xuân Tr, sinh năm 1990; địa chỉ: xóm L, xã T, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Anh Lương Thành N sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 02/ 2021, Trần Thị H đang bán hàng nước giải khát ở vỉa hè đường đôi (đường 36 mét) Khu công nghiệp Sông Công II thuộc địa phận xóm Làng Dỗ, xã Tân Quang, thành phố Sông Công, thì có một người đàn ông (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến và bảo với H trực tiếp bán số đề cho người đàn ông này, thì sẽ được trả 10% trên tổng số tiền bán số đề hằng ngày, nếu người mua số đề trúng thì người đàn ông này sẽ là người trả tiền thưởng, H đồng ý. Cách thức chơi số đề là người chơi chọn 02 số tự nhiên từ 0 đến 9, sau đó đối chiếu với kết quả Xổ số Miền Bắc được mở thưởng trong ngày, nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng và sẽ được trả thưởng theo tỷ lệ 01x70. Khoảng 17 giờ ngày 23/01/2021, có Cù Xuân Trung, trú tại: xóm Làng Dỗ, xã Tân Quang, thành phố Sông Công đến quán nước của H và hỏi mua số đề, H đồng ý. Trung bảo H “ghi cho em con 55 đặc biệt 100.000 đồng và đầu 5 x 40.000 đồng”(ý là số đề 55 x 100.000 đồng và 10 số đề từ 50 đến 59 x 40.000 đồng, tổng số tiền mua số đề là 500.000 đồng), H ghi các số đề Trung mua vào 01 tờ giấy đã chuẩn bị từ trước, đưa cho Trung, Trung cầm tờ giấy ghi các số đề, rồi đưa cho H số tiền 500.000 đồng. Khi H đang bán số đề cho Trung thì bị Công an thành phố Sông Công bắt quả tang, lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng, gồm: 500.000 đồng tiền đánh bạc; 01 tờ giấy A4 một mặt có ghi “giấy báo nợ” của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, một mặt ghi “Đ 5 x 40n; 55 x 100n”; 01 bút mực màu đen (bút lục số 27).

Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ diễn biến, nội dung sự việc như đã nêu ở trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cù Xuân Trung và người chứng kiến là anh Lương Thành Nam.

Về vật chứng trong vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được gửi tại Kho bạc nhà nước Sông Công; 01 bì niêm phong kí hiệu A bên trong có 01 tờ giấy A4 một mặt có ghi “giấy báo nợ” của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh 22498-CN LUU XA – HOI SO và một mặt sau ghi “Đ 5 x 40n; 55x100n”; 01 bút bi mực đen đã qua sử dụng đã được chuyển, bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 41/ CT – VKS ngày 22/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo H từ 07 đến 09 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo H; về vật chứng, đề nghị tịch thu sung công quỹ số tiền 500.000 đồng Cù Xuân Trung và bị cáo H đánh bạc trái phép, tịch thu tiêu hủy 01 tờ giấy A4 và 01 chiếc bút bi H dùng để ghi số đề; về án phí: đề nghị buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo H không có ý kiến tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đang bị HIV, hiện tại hoàn cảnh rất khó khăn, làm lao động tự do thu nhập không ổn định, phải thuê nhà ở, vợ chồng ly thân, bị cáo là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền, bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt, sớm trở về gia đình nuôi dạy con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cù Xuân Trung; biên bản sự việc ngày 23/02/2021 và vật chứng thu giữ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 23/02/2021, tại vỉa hè đường đôi (đường 36 mét) Khu công nghiệp Sông Công II

- thuộc địa phận xóm Làng Dỗ, xã Tân Quang, thành phố Sông Công. Trần Thị H (là người đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích) đang có hành vi đánh bạc trái phép với Cù Xuân Trung bằng hình thức bán số đề cho Trung với tổng số tiền bán số đề là 500.000 đồng thì bị Công an thành phố Sông Công bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

Đối với Cù Xuân Trung có hành vi đánh bạc trái phép, nhưng tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và không có tình tiết định tội nào khác, Công an thành phố Sông Công đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền đối với Trung là phù hợp.

Đối với người đàn ông, theo H khai là người thỏa thuận trả tiền công cho H bán số đề, H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Thị H:

3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

3.2. Về nhân thân: Bị cáo H sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo hiện đang có 01 tiền án, năm 2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên kết án phạt tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” (là tình tiết định tội của lần phạm tội này), ngoài ra trước đó năm 1996 bị cáo còn từng bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên kết án phạt tù về tội “Môi giới mại dâm” và ngày 25/01/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên kết án phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” (thời điểm bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội ngày 23/02/2021, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật).

3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù tính chất hành vi phạm tội của bị cáo H thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, ngoài ra cũng đã từng 02 lần khác bị kết án phạt tù về tội “Môi giới mại dâm” và “Đánh bạc”, lại chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên cần phải xét xử bị cáo bằng hình phạt tù, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng sẽ cân nhắc xem xét số tiền đánh bạc của bị cáo dưới mức 5.000.000 đồng, xét xử bị cáo mức án phạt tù phù hợp trong khung mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị. Sau đó, áp dụng Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt tù tại bản án số 13/2021/HS-ST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo H 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh hiện tại của bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định và lần phạm tội này bị cáo cũng chưa thu được lợi gì từ hành vi phạm tội, nên xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo H.

Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Số tiền 500.000 đồng Cù Xuân Trung dùng đánh bạc trái phép với bị cáo Trần Thị H, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. 01 tờ giấy A4 một mặt ghi “giấy báo nợ” của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh 22498-CN LUU XA – HOI SO, mặt sau ghi “ Đ 55x40n”; “55x100n” và 01 bút bi mực đen là công cụ bị cáo H dùng để đánh bạc trái phép, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo H bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 13/2021/HS-ST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo H 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”, buộc bị cáo Trần Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 16 (mười sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/7/2020 đến ngày 17/7/2020. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2021.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Thị H.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 500.000 đồng Cù Xuân Trung và bị cáo H đánh bạc trái phép (tiền hiện đang được gửi, bảo quản tại Kho bạc thành phố Sông Công theo biên bản giao nhận tài sản ngày 15/ 4/ 2021 giữa Công an và Kho bạc Nhà nước Sông Công thuộc Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên (được niêm phong trong: Gói niêm phong ký hiệu H bằng bì thư, gói còn nguyên niêm phong, mặt sau có 03 dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, chữ ký ghi rõ họ tên của 05 người Ngô Phương Nam, Đặng Quốc Trung, Trần Thị H, Cù Xuân Trung, Lương Thành Nam. Mặt trước gói ghi: Bên trong có số tiền 500.000đ thu giữ ngày 23/ 02/ 2021, niêm phong ngày 23/ 02/ 2021).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 tờ giấy A4 một mặt ghi “giấy báo nợ” của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh 22498-CN LƯU XA – HOI SO và mặt sau ghi “Đ x 40n”; “55 x 100n” (đựng trong bì niêm phong kí hiệu A); 01 bút bi mực màu đen đã qua sử dụng

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/7/2021 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Trần Thị H; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cù Xuân Trung.

Báo cho bị cáo H biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ