vanban.org

Bản án 40/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 24/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 27-11-2020. Về xử ký vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HS-ST
Ngày: 24-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

Bà Lê Thị Thu Yến.

Ông Lê Văn Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng L (Tên gọi khác: Thương), sinh năm 1982 tại Tiền Giang.

Nơi cư trú: 1025/25F đường C, phường 7, quận T, Thành phố H;

Chỗ ở: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị C; bị cáo có chồng Huỳnh Ngọc D và 02 con, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền sự: 01 lần, ngày 11/6/2019 bị Tóa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 52/2019/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 03/02/2020; tiền án: Không có.

Tạm giữ ngày 27/11/2020; tạm giam ngày 03/12/2020. Bị cáo “Có mặt”.

- Người làm chứng:

Anh Võ Phước T, sinh năm 1990 (Vắng mặt);

Địa chỉ: 3B Ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 17 giờ 40 phút ngày 27/11/2020, Nguyễn Thị Hồng L đang ngồi chờ xe trung chuyển tại Nhà xe Hùng Hiếu số 313 Ấp Bắc, phường 5, thành phố M, T thì bị kiểm tra balo màu đen có dây đeo ghi chữ MeoW để bên cạnh trên ghế phía tay trái của Nguyễn Thị Hồng L thì phát hiện trong balo có 01 bịch nylon màu trắng bên trong có 03 cái khẩu trang màu xám và trong khẩu trang có 01 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng được quấn lại bằng băng keo màu đen.

Đồ vật, tài liệu thu giữ theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27/11/2020 gồm: 01 (Một) bịch nylon màu trắng được quấn lại bằng băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong theo quy định của pháp luật; 01 (một) bịch nylon màu trắng bên trong chứa 03 cái khẩu trang màu xám; 01 (một) cái bóp nhiều màu ghi chữ Hello Kitty; 01 (một) căn cước công dân số 082182000481 mang tên Nguyễn Thị Hồng L; 01 (một) cái balo màu đen có dây đeo ghi chữ MeoW; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu bạc, số Imei 357202/07/922050/6, 01 sim Viettel có ghi dãy số 8984048000041201821.

Tại bản Kết luận giám định số 243/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được hàn kín được quấn lại bằng 01 (một) miếng băng keo màu đen gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,9191 gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSMT ngày 22-3-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thị Hồng L về tội danh trên. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm bì thư ký hiệu vụ số 243, một bịch nylon màu trắng bên trong chứa 03 cái khẩu trang màu xám. Trả lại cho bị cáo tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu bạc, 01 sim Viettel; 01 (một) cái bóp nhiều màu ghi chữ Hello Kitty; 01 (một) cái balo màu đen có dây đeo ghi chữ MeoW và 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Hồng L.

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt và xử lý vật chứng.

Bị cáo nhận thức được hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử mức hình phạt thấp, sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, biên bản bắt người người phạm tội quả tang ngày 27/11/2020, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cở sở kết luận: Lúc 17 giờ 40 phút ngày 27/11/2020, Nguyễn Thị Hồng L bị kiểm tra balo màu đen có dây đeo ghi chữ MeoW để bên cạnh trên ghế phía tay trái của L đang ngồi chờ xe trung chuyển tại Nhà xe Hùng Hiếu số 313 Ấp Bắc, phường 5, thành phố M, T thì phát hiện và thu giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng được quấn lại bằng băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Theo kết luận giám định số 243/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2020 kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định nói trên là ma túy, có khối lượng 4,9191 gam, loại Methamphetamine. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Gây tác hại về nhiều mặt đối với xã hội như có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn thực hiện do cố ý để sử dụng thỏa cơn nghiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện qua việc bị cáo có tiền sự về hành vi sử dụng chất ma túy trái phép đã bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nhưng bị cáo không từ bỏ vãn tái nghiện và mua chất ma túy cất giữ sử dụng nên không có ý thức chấp hành pháp luật. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự;

Tịch thu và tiêu hủy vật cấm tàng trữ, lưu hành, trực tiếp liên quan đến tội phạm gồm: 01 (Một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 243, 01 (một) bịch nylon màu trắng bên trong chứa 03 cái khẩu trang màu xám.

Vật không trực tiếp liên quan đến tội phạm bị cáo yêu cầu được nhận lại nên tar3 cho bị cáo gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu bạc, số Imei 357202/07/922050/6, 01 sim Viettel có ghi dãy số 8984048000041201821; 01 (một) cái bóp nhiều màu ghi chữ Hello Kitty; 01 (một) cái balo màu đen có dây đeo ghi chữ MeoW và 01 (một) căn cước công dân số 082182000481 mang tên Nguyễn Thị Hồng L.

Về nguồn gốc chất ma túy nói trên, Nguyễn Thị Hồng L liên hệ bằng điện thoại và đã xóa số để mua của một người tên Hoa do bạn quen trên mạng xã hội giới thiệu và nhận ma túy tại vòng xoay ngã 7 ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không biết lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng Hoa vì vậy không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi của Hoa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M phân tích tính chất mức độ phạm tội; đặc điểm nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp qui định của pháp luật và nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 27-11-2020.

2. Về xử ký vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 243, 01 (một) bịch nylon màu trắng bên trong chứa 03 cái khẩu trang màu xám.

Trả cho bị cáo gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu bạc, 01 sim Viettel; 01 (một) cái bóp nhiều màu ghi chữ Hello Kitty; 01 (một) cái balo màu đen có dây đeo ghi chữ MeoW và 01 (một) căn cước công dân số 082182000481 mang tên Nguyễn Thị Hồng L.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 4 năm 2021 tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ