- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn T - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Hứa Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HS-ST Ngày: 10-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Tùng
Bà Nông Thị Hồng Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Anh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hứa Văn T, giới tính: nam, tên gọi khác: không có
Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1989 tại Q, Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 06/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn P, sinh năm 1956; con bà Lý Thị K (đã chết); Vợ, con: Không; tiền án: không có; Tiền sự: ngày 05-11-2020 bị Hạt kiểm lâm huyện Q phạt tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng chẵn) về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái pháp luật”;
Nhân thân: Ngày 29-7-2015, bị Công an huyện A xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi vận chuyển gỗ trái phép.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/01/2021 đến ngày 28/3/2021; có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông: Hứa Văn P, sinh năm 1956, nơi cư trú: xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 04 giờ 20 phút ngày 14 tháng 01 năm 2021 tại khu vực xóm S, xã D, huyện A, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang Hứa Văn T - sinh năm 1989, trú tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng đang điều khiển xe ô tô màu xanh nhãn hiệu Thaco biển kiểm soát 11C-03977 vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Vật chứng thu giữ: 168 khúc gỗ tròn loại thông thường có tổng khối lượng là 2,962m3 (hai phẩy chín trăm sau mươi hai mét khối). Trong đó: 119 khúc Vối thuốc có khối lượng 1,779m3 (một phẩy bẩy trăm bẩy mươi chín mét khối); 45 khúc Sau Sau có khối lượng 1,066m3 (một phẩy không trăm sáu mươi sáu mét khối); 04 khúc SP (không xác định) có khối lượng 0,117m3 (không phẩy một trăm mười bảy mét khối).
Mở rộng điều tra vụ án xác định được như sau: Trưa ngày 13/01/2021, Hứa Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11C-03977 chở vật liệu xây dựng từ huyện A, tỉnh Cao Bằng đến xã L, huyện Q, tỉnh Cao Bằng cho người dân để xây dựng công trình. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe về đến khu vực xóm S1, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng thì T thấy có nhiều người dân đang vận chuyển gỗ Sau Sau, gỗ Vối thuốc đã được cắt thành khúc để ở bên cạnh đường nên T hỏi mục đính để bán lại cho người khác làm củi đun sấy thuốc lá, T đã thu mua gỗ với 04 người dân (không biết tên, địa chỉ cụ thể) hết tổng số tiền là 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) và được những người này bốc xếp gỗ lên xe ô tô, bốc xếp gỗ xong, T để xe ở bên cạnh đường và đi nhờ xe máy về nhà ở của T. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 14/1/2021, T đi xe máy đến nơi để xe ô tô của mình và điều khiển xe ô tô vận chuyển gỗ sang khu vực xóm R, xã N1, huyện A để bán, nhưng khi xe vừa di chuyển đến khu vực xóm S, xã D, huyện A, tỉnh Cao Bằng thì bị tổ công tác phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang.
Trước đó, ngày 05-11-2020 Hứa Văn T đã bị Hạt Kiểm lâm huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái pháp luật” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 22 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp bằng hình thức phạt tiền.
Tại phiên toà, bị cáo Hứa Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hứa Văn P khai: Năm 2017, ông P đã thế chấp tài sản của gia đình để vay tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông Chi nhánh N 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) để mua xe ô tô cho Hứa Văn T về làm ăn, hiện tại ông P vẫn phải trả lãi ngân hàng, chưa trả được khoản tiền vay để mua xe. Việc bị cáo lấy xe đi chở gỗ gia đình không biết nên ông P đề nghị Tòa án trả lại chiếc xe cho gia đình quản lý sử dụng để có phương tiện chuyên chở hàng kiếm sống phục vụ cho gia đình, mong hội đồng xét xử xem xét.
Tại bản Cáo trạng số: 34/CTr-VKSCB(P1) ngày 25-3-2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hứa Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo Hứa Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Hứa Văn T về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên. Về hình phạt: Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hứa Văn T từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách nhà nước 2,962m3 gỗ tròn, loại thông thường; Trả lại cho gia đình bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO đã qua sử dụng, màu xanh đeo biển kiểm soát 11C - 039.77, số khung 00BCF051809, số máy 0D10F1F30194 kèm 01 đăng ký xe ô tô mang tên Hứa Văn T.
Bị cáo T không có lời bào chữa bổ sung, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Hứa Văn T và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Hứa Văn T hoàn toàn phù hợp với biên bản ghi lời khai, biên bản ghi lời khai có sự tham gia của Kiểm sát viên, phù hợp với lời khai của ông Hứa Văn P cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Hồi 04 giờ 20 phút ngày 14/1/2021 tại khu vực xóm S, xã D, huyện A, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Hứa Văn T đang điều khiển xe ô tô tải màu xanh nhãn hiệu Thaco biển kiểm soát 11C-03977 vận chuyển 168 khúc gỗ tròn loại thông thường có tổng khối lượng là 2,962m3 (hai phẩy chín trăm sáu mươi hai mét khối) từ khu vực xóm S1, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng để bán cho các hộ dân trồng thuốc lá. Khi bị kiểm tra, T không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc lâm sản.
Hành vi vận chuyển 2,962m3 gỗ tròn, thuộc nhóm VII, gỗ thông thường được khai thác từ rừng tự nhiên lá rộng thường xanh không có hồ sơ lâm sản hợp pháp của Hứa Văn T đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Ngày 18-8-2020 Hứa Văn T đã bị Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép” bằng hình thức phạt tiền với số tiền 10 triệu đồng. Thời điểm vi phạm, Hứa Văn T chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên hành vi vận chuyển trái phép 2,962m3 gỗ đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hứa Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: không có
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận hình phạt tiền để nộp ngân sách nhà nước, mong Hội đồng xét xử xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng đề nghị xem xét mức phạt tiền để bị cáo có cơ hội cùng gia đình tập trung trả nợ ngân hàng.
Hội đồng xét xử thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 232 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về hướng xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là 2,963m3 gỗ tròn, loại thông thường (khoảng 168 khúc). Kèm theo bảng kê lâm sản của phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Cao Bằng. Đây là số gỗ được mua bán, khai thác, vận chuyển trái phép nên cần tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
- Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11C-03977 là phương tiện bị cáo dùng để vận chuyển gỗ, tuy nhiên khi bị cáo lấy xe đi chở gỗ thì T không cho gia dình biết; nguồn gốc số tiền để mua xe là do ông Hứa Văn P đi vay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh N (nay là huyện Q) 200.000.000đ, (Hai trăm triệu đồng chẵn), chiếc xe là phương tiện duy nhất của gia đình bị cáo nên cần trả lại chiếc xe cho ông Hứa Văn P quản lý sử dụng là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Hứa Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Bị cáo Hứa Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn T bằng hình phạt tiền với số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng chẵn) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu phát mại lấy tiền nộp Ngân sách Nhà nước 168 (một trăm sáu mươi tám) khúc gỗ tròn, tổng khối lượng 2,962 mét khối gỗ tròn, loại thông thường (khoảng 168 khúc). Kèm theo bảng kê lâm sản của phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Cao Bằng .
- Trả lại cho bị cáo: 01 đăng ký xe ô tô mang tên Hứa Văn T.
- Trả lại cho ông Hứa Văn P, sinh năm 1956 (Trú tại: Xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng): 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu THACO đã qua sử dụng, màu xanh đeo biển kiểm soát 11C - 039.77; Số khung 00BCF051809, số máy 0D10F1F30194.
Có phiếu trả lời xác minh phương tiện cơ giới giao thông đường bộ của phòng Cảnh sát giao thông tỉnh Cao Bằng kèm theo.
Có bản cà số khung số máy kèm theo (bản cà khớp với số khung số máy thực tế và phiếu trả lời xác minh của phòng Cảnh sát giao thông).
(Xác nhận các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số 64 ngày 31/3/2021).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Hứa Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hứa Văn T có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hứa Văn P có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Cơ quan CSĐT Công an tinh Cao Bẳ ̀ng; - Cục THADS tỉnh Cao Bằng. - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư pháp CB; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS vụ án; - Lưu toà HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thụ |