vanban.org

Bản án 40/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 07/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/04/2021). Giao Nguyễn Văn T1 về Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 40/2021/HS-ST
Ngày 07-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa

Ông Nguyễn Văn Sanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/02/1980 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 163 đường S, Tổ dân phố 4, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1937 và bà Trần Thị M, sinh năm: 1944; vợ là Hoàng Thị Diệu N, sinh năm 1983, có 03 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Thái Thị Hồng L, sinh ngày 20/6/1967 (chết). Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện hợp pháp của bà Thái Thị Hồng L:

Bà Đoàn Thị Dần, sinh năm: 1937 (là mẹ). Địa chỉ: Chợ mới P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, vắng mặt.

Bà Dương Thị Thanh T2, sinh năm: 1988 (là con). Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Ông Dương Phú Q, sinh năm: 1990 (là con). Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Ông Dương Cao T3, sinh năm: 1995 (là con). Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Bà Dương Thị Thanh T2 và ông Dương Cao T3 ủy quyền cho ông Dương Phú Q, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam, ông Q vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH D. Địa chỉ: 214 – 216 T, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị Như Y – Chức danh: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH D: Ông Mỵ Duy D – Giám đốc nhân sự Công ty (Giấy ủy quyền số 04/UQ-DT ngày 06/4/2021), ông D có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 22/7/2020, Nguyễn Văn T1 điều khiển xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 43R-1197 lưu thông trên đường X hướng từ đường T về X. Khi đến gần nơi giao lộ đường X và X, T1 bật đèn tín hiệu báo hướng rẽ phải điều khiển cho xe chuyển hướng rẽ phải về phía cầu T, do T1 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi chuyển hướng nên đã tông vào đuôi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 92H1-565.67 do bà Thái Thị Hồng L điều khiển đi phía trước, làm bà L và xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả: Bà L tử vong vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 22/7/2020; hai xe bị hư hỏng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 43R-1197;

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67;

- 01 đĩa CD chứa dữ liệu camera ghi nhận hướng phương tiện lưu thông tại ngã ba Trương Chí Cương và đường 2/9 vào ngày 22/7/2020 (được lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của Nguyễn Văn T1 lúc 14 giờ 45 phút ngày 22/7/2020 là 0,000 mg/L.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 86 ngày 29/10/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương dập nát chân phải, đứt lìa phức tạp đùi đã được phẫu thuật tạo mỏm cụt ngang đoạn 1/3 giữa đùi phải.

- Chấn thương dập nát phức tạp cánh tay phải đã được phẫu thuật tạo mỏm cụt ngang đoạn 1/3 trên cánh tay;

- Vết thương phức tạp lóc da từ vùng bẹn phải L lên đến bờ dưới xương sườn XII phải, bầm dập cân cơ vùng hông phải chảy máu, rách toạc chân cơ chéo bụng trong và ngoài, phòi manh tràng ra ngoài. Đã được phẫu thuật mở ổ bụng thám sát theo đường giữa trên – dưới rốn, rửa ổ bụng, cầm máu, dẫn lưu.

Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương.

Nạn nhân choáng chấn thương, choáng mất máu không hồi phục, hôn mê, suy hô hấp, trụy mạch, ngừng thở, ngừng tim và tử vong.

Tại Kết luận trưng cầu giám định dấu vết cơ học số 949/C09C-Đ1 ngày 05/10/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Dấu vết trượt, dính chất màu xanh, đỏ tại mặt ngoài bên trái cản trước đầu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49, kéo theo sơ mi rơ moóc xi téc biển kiểm soát 43R-1197, chiều hướng từ dưới lên trên, từ phải qua trái phù hợp với dấu vết vỡ ốp nhựa màu xanh, đỏ tại đuôi xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải, khi 02 xe chuyển động cùng chiều, đầu xe ô tô đầu kéo va chạm với đuôi xe mô tô.

Dấu vết trượt, dính chất màu xanh, mất chất màu đen tại má ngoài lốp bánh xe bên trái trục 1 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49, kéo theo sơ mi rơ moóc xi téc biển kiểm soát 43R-1197, chiều hướng từ mặt lăn vào tâm bánh xe và ngược chiều quay tiến của xe phù hợp với dấu vết trượt, mất sơn màu xanh, dính chất màu đen và gãy vỡ tại đoạn sau ốp sườn bên trái xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67, chiều hướng từ trên xuống dưới, khi xe mô tô đã ngã phải và xe ô tô chuyển động tiến chèn vào đoạn sau ốp sườn bên trái của xe mô tô.

Vị trí va chạm đầu tiên của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49, kéo theo sơ mi rơ moóc xi téc biển kiểm soát 43R-1197 là tại dấu vết trượt, dính chất màu xanh, đỏ tại mặt ngoài bên trái cản trước đầu xe và vị trí va chạm đầu tiên của xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67 là tại đuôi xe.

Xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67 có số khung đóng tại vị trí bên phải cổ xe là: RLHJA3909HY460194, số máy đóng tại vị trí mặt bên trái vỏ máy là: JA39E-0435331. Không phát hiện thấy dấu vết đục phá, sửa chữa số khung, số máy nêu trên”.

Tại Bản kết luận giám định số 987/C09C-DD ngày 01/10/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Chất màu xanh (ký hiệu A) và chất màu đỏ (ký hiệu A2) bám dính tại mặt ngoài, bên trái cản trước ghi thu của xe ô tô đầu kéo; nhãn hiệu CNHTC, số loại ZZ4257V3247Q1B biển kiểm soát 43C-224.49 gửi giám định quá ít và lẫn nhiều tạp chất nên không đủ cơ sở để kết luận.”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 209 ngày 26/10/2020, số 244 ngày 05/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận Hải Châu kết luận: Phần thiệt hại của xe mô tô kiểm soát 92H1-565.67 là 3.970.000 đồng và phần thiệt hại của xe ô tô đầu kéo kiểm soát 43C-224.49 là 7.200.000 đồng.

Tại Bảng sao kê dữ liệu hành trình của xe 43C-224.49 vào ngày 22/7/2020 do Công ty TNHH D (chủ sở hữu, quản lý phương tiện) và báo cáo hành trình xe 43C-224.49 vào ngày 22/7/2020 xác định tốc độ của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49 do lái xe Nguyễn Văn T1 điều khiển tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67 do bà Thái Thị Hồng L điều khiển khi xe rẽ hướng về cầu T di chuyển tăng tốc dần từ 17km/ giờ lúc 10 giờ 43 phút đến 33 km/ giờ vào lúc 10 giờ 44 phút cùng ngày rồi xe dừng hẳn sau khi xảy ra va chạm.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 05/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 15 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 42 tháng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 43R-1197 cho Công ty TNHH D; 01 xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67 cho gia đình bà L nên không xem xét giải quyết.

Về dân sự: Công ty TNHH D cùng Nguyễn Văn T1 đã tự thỏa thuận bồi thường cho gia đình bà L số tiền 110.000.000 đồng do con ruột của bà L là anh Dương Phú Q được gia đình ủy quyền tham gia giải quyết vụ án, anh Q có đơn xin bãi nại và miễn trách nhiệm hình sự đối với T1 nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Nguyễn Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH D trình bày: Bị cáo Nguyễn Văn T1 là lái xe của Công ty, sau khi xảy ra tai nạn, đại diện Công ty đã đến hiện trường. Công ty và T1 đã phối hợp bồi thường cho gia đình người bị hại. Bị cáo T1 là người có đạo đức tốt, đã có thâm niên lái xe lâu năm nên Công ty an tâm mới giao loại xe này cho T1 lái, tai nạn xảy ra là do sơ xuất, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo T1. Công ty đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha mẹ già và 03 con nhỏ, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T1 tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 22.7.2020, Nguyễn Văn T1 có Giấy phép lái xe hạng FC số 740103011180 do Sở GTVT tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/10/2015, có giá trị đến ngày 30/10/2020, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 43C – 224.49 kéo theo rơ moóc biểm kiểm soát 43R- 1197 đi trên đường X, theo hướng từ T đi X, khi đi đến đoạn giao lộ đường X và X thuộc địa phận phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, do thiếu quan sát, không giảm tốc độ khi chuyển hướng nên đã tông vào xe mô tô 92H1-565.67 do bà Thái Thị Hồng L điều khiển đi phía trước dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả bà Thái Thị Hồng L bị tử vong. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác. Đây là đoạn đường giao lộ ngã tư, có lưu lượng xe lưu thông tấp nập, bị cáo điều khiển xe thiếu quan sát, khi điều khiển xe ô tô chuyển hướng đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn là đã vi phạm khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và khoản 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải. Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn là do bị cáo không chấp hành đúng luật Giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Tuy nhiên, người bị hại cũng có một phần lỗi điều khiển xe máy chạy không đúng làn đường và chưa có giấy phép lái xe theo quy định vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ. HĐXX xét thấy cần phải xét xử một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và chủ xe đã bồi thường cho gia đình người bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, đại diện gia đình người bị hại có đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Xét thấy, Nguyễn Văn T1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo này có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải xử cách ly ra khỏi xã hội bắt chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Văn T1 và Công ty TNHH D đã bồi thường cho gia đình nạn nhân bà Thái Thị Hồng L 110.000.000 đồng, đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu gì thêm và không khiếu nại gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với thiệt hại do hư hỏng của xe mô tô kiểm soát 92H1-565.67 là 3.970.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền trên, đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Đối với phần thiệt hại của xe ô tô đầu kéo kiểm soát 43C-224.49 là 7.200.000 đồng, Công ty TNHH D không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết .

Về Xử lý tang vật:

Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43C-224.49 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 43R-1197 cho Công ty TNHH D và 01 xe mô tô biển kiểm soát 92H1-565.67 cho gia đình bà L, sau khi nhận lại xe Công ty TNHH D và gia đình bà L không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu 200.000 đồng.

Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/04/2021).

Giao Nguyễn Văn T1 về Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về thời hạn kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị đơn dân sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đại diện người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ