vanban.org

Bản án 40/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 07/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 40/2021/HS-ST

Ngày: 07/05/2021

HUYỆN THÁI THỤY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Hà. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Hồng Thiêm và bà Vũ Thị Thúy. - Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký TAND huyện Thái Thụy. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2021/TLST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 đối với: Bị cáo Lê Văn T1, sinh ngày 05/4/1979 tại Thái Bình; Nơi cư trú: thôn K, xã Q, huyện T, tỉnh B. Nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Mạnh T2, sinh năm 1947 và bà Lê Thị L, sinh năm 1953; có vợ là Đào Thị T3, sinh năm 1982 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng theo Quyết định số 233/QĐ- UBND ngày 25/01/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình, đã chấp hành xong ngày 28/12/2014. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/02/2021, đến ngày 26/02/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt) Người chứng kiến: - Anh Phạm Văn T4, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn K, xã D, huyện T, tỉnh B. (vắng mặt) - Ông Bùi Văn H, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh B (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do mắc nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/02/2021, Lê

Văn T thuê xe ôm đi từ nhà ở thôn K, xã Q đi sang khu vực xã D để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi xuống xe T gặp được 01 người đàn ông không quen biết, hỏi mua của người này 01 gói ma túy loại heroine với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua xong, Trọng cầm ở tay rồi đi bộ, đến khu vực thôn V, xã D, Trọng bị lực lượng Công an xã D kiểm tra hành chính phát hiện Trọng có tàng trữ ma túy. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến là ông Phạm Văn T4 và ông Bùi Văn H, Công an xã kiểm tra thấy trong lòng bàn tay trái của Trọng có 01 gói được gói bằng giấy màu xám trắng, có dòng kẻ, mở ra bên trong là chất bột màu trắng dạng cục, Trọng khai đó là ma túy loại heroine Trọng mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó công an niêm phong ma túy vừa thu giữ của Trọng, rồi đưa Trọng về Ủy ban nhân dân xã D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục theo quy định. Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trọng nhưng không thu giữ gì liên quan đến ma túy. Tại bản kết luận giám định số 54/KLGĐMT-PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng trong phong bì niêm phong mẫu số A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1742 gam”. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên. Bản cáo trạng số 39/CT-VKSTT ngày 12/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí. Bị cáo không tranh luận đối với đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy lập ngày 23/02/2021 (bút lục số 29 - 33); lời khai của những người chứng kiến là ông Phạm Văn T4 và ông Bùi Văn H (bút lục số 72-79); bản kết luận giám định số 54/KLGĐMT-PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 39). Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 9 giờ ngày 23/02/2021 tại khu vực thôn V, xã D, huyện T, tỉnh B, Công an xã D phối hợp cùng Công an huyện Thái Thụy phát hiện, bắt quả tang Lê Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép trong lòng bàn tay trái 01 gói được gói bằng giấy màu xám trắng, có dòng kẻ, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng loại Heroine, có khối lượng 0,1742 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Văn T đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.” [3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo T là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội,

là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đấy là bài học để sửa chữa, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. [4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bố bị cáo là người có công được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấy tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt, bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. [6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/02/2021. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1225 gam Heroine, hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 54/KLGĐMT-PC09. (Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2021)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 07/5/2021.

Cỡ chữ