- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HS-ST Ngµy: 26/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông: Nguyễn Xuân Khải.
2/Ông: Phan Xuân Hùng.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng - Cán bộ TAND Thị xã Mỹ Hào
Đại diện VKSND thị xã tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến - KSV.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2021/TLST-HS ngày 27/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST- HS ngày 11/8/2021 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Duy H- sinh năm 1987
Giới tính: Nam Trú tại: Tổ dân phố C H, phường B Y N, thị xã M H, tỉnh H Y. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do Chức vụ: Không Trình độ học vấn: 12/12 Họ và tên bố: Nguyễn Đình S, sinh năm 1962. Họ và tên mẹ: Đỗ Thị H1, sinh năm 1965. Vợ: Đào Ngọc Th, sinh năm 1987 (đã li hôn). Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Không Tiền sự: Ngày 06/4/2021 bị Công an huyện V L xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2021. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã M H, tỉnh H Y, có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Trọng Q- sinh năm 1996
Giới tính: Nam Trú tại: Tổ dân phố C H, phường B Y N, thị xã M H, tỉnh H Y. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do Chức vụ: Không Trình độ học vấn: 11/12 Họ và tên bố: Nguyễn Trọng H2, sinh năm 1970. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1972. Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H Y,có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền và lợi ích liên quan:
1/Anh: Nguyễn Hồng Ph, sinh năm 1995 (vắng mặt) Trú tại: Thôn N L, xã Tr T, huyện V L, tỉnh H Y.
*Những người làm chứng:
1/Anh: Đặng Hữu B, Sinh năm 2002. Trú tại: Tổ dân phố Q C, phường P Đ P, thị xã M H, tỉnh H Y.
2/Anh: Trần Trọng Tr, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn Ng X, xã T H, huyện Y M, tỉnh H Y.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 01/6/2021, Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1996 HKTT: Tổ dân phố C H, phường B Y N, thị xã M H, tỉnh H Y đến nhà Nguyễn Duy H, sinh năm 1987 ở cùng tổ dân phố C H chơi. Trong lúc ngồi uống nước, H rủ Q đi mua ma túy để sử dụng thì Q đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số: 31-693.S1 chở Q đến đoạn đường B4, khu công nghiệp A thuộc xã L H, huyện V L, tỉnh H Y, gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ. H hỏi mua ma túy của người đàn ông này và đưa cho người đàn ông này 200.000đồng, người đàn ông này đưa cho H một gói ma túy, H cầm gói ma túy đưa cho Q cầm. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe mô tô nêu trên chở Q về đến đoạn đường giao nhau giữa đường thuộc khu đô thị Hòa Phát và đường thuộc tổ dân phố C H, phường B Y N, thị xã M H thì bị lực lượng Công an thị xã M H phối hợp với Công an phường B Y N, thị xã M H kiểm tra, phát hiện.
Vật chứng thu giữ: Tại tay trái của Q 01gói nilon mầu trắng, bên ngoài được dán hai lớp băng dính mầu trắng và mầu xanh đen, bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong ký hiệu M). Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Q 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus mầu đen xám và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 mầu đen. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 mầu đen. Ngoài ra còn quản lý của H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream, sơn màu nâu, biển số: 31- 693. S1, kiểm tra trong cốp xe không có đồ vật gì.
Cùng ngày 01/6/2021, Cơ quan điều tra Công an thị xã M H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q đều ở tổ dân phố C H, phường B Y N, thị xã M H. Kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản Thông báo kết luận sơ bộ số:144/MT-PC09 ngày 01/6/2021; Bản kết luận giám định số: 144/MT-PC09 ngày 04/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H Y kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M, có khối lượng: 0,286g (không phẩy hai tám sáu gam), là ma túy, là loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,262g (Không phẩy hai sáu hai gam) Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu (M) giao cho Công an thị xã M H quản lý. Các mẫu vật khác không hoàn lại.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream, biển số: 31 - 693.S1, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hồng Ph, sinh năm 1995 ở thôn N L, xã Tr T, huyện V L(là bạn của H) cho H mượn nhưng anh Ph không biết H sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy. Ngày 29/6/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Ph, anh Ph nhận lại không yêu cầu đề nghị gì.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus vỏ máy mầu đen xám bên trong không có sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, vỏ máy mầu đen bên trong nắp 02 sim điện thoại thu giữ của Q và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 trong máy lắp 02 sim điện thoại thu giữ của H. Qua điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội, Q và H đề nghị xin nhận lại tài sản.
Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Trọng Q và Nguyễn Duy H của người đàn ông chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ tại đoạn đường B4, khu công nghiệp A thuộc xã L H, huyện V L. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M H đã có Công văn thông báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V L để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số: 40/CT-VKS-MH ngày 26/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M H truy tố Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diệnViện kiểm sát nhân dân Thị xã M H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố:Các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;khoản 1 điều 17; điều 58; khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt các bị cáo:
Nguyễn Duy H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời gian tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/6/2021.
Nguyễn Trọng Q từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời gian tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/6/2021
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng:Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 46; điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a,b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 0,262gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong ghi ký hiệu M.
Trả lại các bị cáo:
Nguyễn Duy H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 trong máy lắp 02 sim điện thoại thu giữ của H.
Nguyễn Trọng Q 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphne 6 Plus vỏ máy mầu đen xám bên trong không có sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, vỏ máy mầu đen bên trong lắp 02 sim điện thoại thu giữ của Q.
Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận, nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M H. Các bị cáo đã nhận thức được hành vi cũng như việc làm của mình, các bị cáo tự nguyện thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập công đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1/ Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thị xã M H và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã M H và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2/ Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền và lợi ích liên quan, những người làm chứng; Biên bản kiểm tra; Kết luận giám định cùng các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 01/6/2021, Nguyễn Trọng Q đến nhà Nguyễn Duy H chơi. Trong lúc ngồi uống nước H rủ Q đi mua ma túy để sử dụng thì Q đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số: 31-693.S1 chở Q đến đoạn đường B4, khu công nghiệp Phố Nối A thuộc xã L H, huyện V L, tỉnh H Y gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ mua của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 200.000đồng. Sau khi mua được ma túy H cầm gói ma túy đưa cho Q cầm, H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Q về đến đoạn đường giao nhau giữa đường thuộc khu đô thị Hòa Phát và đường thuộc tổ dân phố C H, phường B Y N, thị xã M H thì bị lực lượng Công an thị xã M H phối hợp với Công an phường B Y N, thị xã M H kiểm tra, phát hiện thu giữ: Tại tay trái của Q 01 gói nilon mầu trắng, bên ngoài được dán hai lớp băng dính mầu trắng và mầu xanh đen, bên trong chứa 0,286g ma túy loại Methamphetamine và một số tài sản khác của Q và H. Hành vi phạm tội của các bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M H truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo tàng trữ mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành trên thị trường. Hành vi của các bị cáo trực tiếp tiếp tay cho việc mua, bán mặt hành cấm. Việc sử dụng ma túy là rất nguy hiểm cho sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, gây băng hoại đạo đức xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.
Trong vụ án có đồng phạm tham gia, do vậy khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đặc điểm nhân thân, vai trò, vị trí của từng bị cáo trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng và mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của các bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo và có tính giáo dục, phòng ngừa chung.
3/Về nhân thân,các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và hướng xử lý đối với bị cáo:.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa,các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án, bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tích cực, bị cáo chủ động rủ Q đi mua ma túy về để cả hai cùng sử dụng, số tiền mua ma túy là của bị cáo. Bị cáo là người chở Q và trực tiếp đứng ra giao dịch mua ma túy. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, ngày 06/4/2021 bị Công an huyện V L xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo cũng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không lấy đó làm bài học cho bản thân mà để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo lại tiếp tục chủ động rủ Q đi mua ma túy về sử dụng. Do vậy khi cân nhắc hình phạt, hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cao hơn bị cáo Q. Bị cáo Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm tích cực, khi được H rủ đi mua ma túy về sử dụng bị cáo cũng đồng tình ngay và cùng bị cáo Q đi mua ma túy. Sau khi H mua được ma túy và đưa cho thì bị cáo trực tiếp cầm và quản lý số ma túy vừa mua được. Trong vụ án, bị cáo thực hiện với vai trò đồng phạm với bị cáo H nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử cũng cân nhắc cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhưng thấp hơn bị cáo H. Xét thấy, các bị cáo đều được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các bị cáo đều là các đối tượng nghiện chất ma túy. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm trực tiếp tiếp tay cho hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, hội đồng xét xử nhận thấy cần bắt các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định theo như nội dung đề nghị tại bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp và mới có tác dụng, cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
4/ Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc, không có tài sản riêng. Vì vậy HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
5/ Về vật chứng: Đối với 0,262gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong ghi ký hiệu M. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 trong máy lắp 02 sim điện thoại thu giữ của H;01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphne 6 Plus vỏ máy mầu đen xám bên trong không có sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, vỏ máy mầu đen bên trong nắp 02 sim điện thoại thu giữ của Q. Đây là các tài sản của cá nhân các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo cần trả lại để các bị cáo sử dụng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 điều 17; điều 58; khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Duy H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/6/2021.
Nguyễn Trọng Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/6/2021
3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 46; điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a,b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,262gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong ghi ký hiệu M.
Trả lại các bị cáo:
Nguyễn Duy H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 trong máy lắp 02 sim điện thoại thu giữ của H.
Nguyễn Trọng Q 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphne 6 Plus vỏ máy mầu đen xám bên trong không có sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, vỏ máy mầu đen bên trong nắp 02 sim điện thoại thu giữ của Q
(Có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng)
5. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền và lợi ích liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh - VKS + Công an + Chi cục THADS thị xã; - Người tham gia tố tụng. - Phòng nghiệp vụ CA + Sở tư pháp tỉnh - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm |