vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Văn M ly hôn chị Nguyễn Thu H.

Về con chung: Giao con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 18/4/2011 và Lê Hoàng A, sinh ngày 16/3/2013 cho anh Lê Văn M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do anh Mạnh không yêu cầu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Văn M ly hôn chị Nguyễn Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ-ST
Ngày 27-9-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Minh Th

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công B

Bà Hoàng Thị C

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt A - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố H

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đ, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 653/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 706/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn M; ĐKNK: Tổ 11, phường L, quận K, thành phố H; nơi cư trú: Tổ Trữ K 1, phường Q, quận K, thành phố H; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thu H, ĐKHK: Số 139/240 Tô H, phường Tr, Quận L, thành phố H; nơi cư trú: Tổ Trữ Kh 1, phường Q, quận K, thành phố H; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Lê Văn M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường L, quận K, thành phố H vào ngày 18 tháng 01 năm 2011. Sau khi kết hôn, anh và chị H về sống chung tại Tổ Trữ K, phường Q, quận K, thành phố H, đây là nhà do anh chị thuê. Quá trình chung sống, vợ chồng anh thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng, anh và 02 con về sống với bố mẹ anh tại Tổ 11, phường L quận K còn chị H vẫn sống tại tổ Trữ K, phường Q, quận K thành phố H. Đến nay anh xác định tình cảm của anh đối với chị Nguyễn Thu H không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng và trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên anh đề nghị Toà án nhân dân quận K giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thu H.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thu H có 02 con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 18/4/2011 và Lê Hoàng A, sinh ngày 16/3/2013. Cả hai con chung hiện đang sống chung cùng với anh và đang học tại trường Tiểu học Võ Thị S. Chị H không có bất cứ trách nhiệm gì đối với anh và các con, do vậy anh đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử về cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho anh Lê Văn M được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 18/4/2011 và Lê Hoàng A , sinh ngày 16/3/2013 cho anh Mạnh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung do anh M không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, buộc anh M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thu H là bị đơn, hiện cư trú tại Tổ dân phố Trữ Kh 1, phường Q, quận K, thành phố H, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố H theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Nguyễn Thu H không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thu H. Anh Lê Văn M đã được Tòa án triệu tập lần 2 nhưng anh M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường L, quận K, thành phố H ngày 18 tháng 01 năm 2011. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Căn cứ vào lời khai của anh Lê Văn M và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định anh Lê Văn Mạnh và chị Nguyễn Thu H trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thu H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn M là phù hợp pháp luật và thực tế vụ kiện, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thu H có 02 con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 18/4/2011 và Lê Hoàng A, sinh ngày 16/3/2013. Tài liệu xác minh và lời khai của anh Lê Văn M thể hiện: Cả hai cháu Lê Mạnh H và Lê Hoàng A đều sống chung cùng với anh Lê Văn M và đang học tại Trường Tiểu học Võ Thị S. Để đảm bảo cho cháu Lê Mạnh H và Lê Hoàng A có điều kiện chăm sóc và phát triển một cách tốt nhất và cũng là phù hợp với nguyện vọng của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Lê Mạnh H và Lê Hoàng A cho anh Lê Văn M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tại phiên tòa là phù hợp pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do anh M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Lê Văn M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản.

Về án phí: Anh Lê Văn M phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Văn M ly hôn chị Nguyễn Thu H.

2. Về con chung: Giao con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 18/4/2011 và Lê Hoàng A, sinh ngày 16/3/2013 cho anh Lê Văn M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do anh Mạnh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Anh Lê Văn M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Anh Lê Văn M phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015351 ngày 23 tháng 7 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố H, anh Lê Văn M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Văn M, chị Nguyễn Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ