vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của Bà Tăng Tú T đối với ông Nguyễn Văn N. Xử cho Bà Tăng Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tăng Tú T và Nguyễn Văn N ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 16-4-2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Hữu Tâm.

Ông Phạm Văn Huynh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hồng – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện LongThành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1089/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng12 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2021/QĐST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tăng Tú T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp 6, xã B, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ 7, Khu 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T và ông N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 18/12/2020 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn bà Tăng Tú T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn N xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứngnhận kết hôn số 103 ngày 19 tháng 12 năm 2012. Việc kết hôn do bà và ông N đều tự nguyện. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Nguyên nhân bà T yêu cầu ly hôn là do vợ chồngbất đồngquan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Bà và ông N đã sống ly thân từ tháng 11/2020 đến nay. Hiện bà T xác định không còn tình cảm với ôngN, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà T khai bà và ông N có 01 người con chung tên là Nguyễn Thu H, sinh ngày20/9/2013. Nếu ly hôn, bà T xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T và ông N tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai khôngcó, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N vắng mặt nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trongquá trìnhgiải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thưký phiên tòa và nguyên đơn là đúng quy định củapháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theoquy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T; Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 20/9/2013 cho bà T nuôi dưỡng. Bà T nuôi con khôngyêu cầu ông N cấp dưỡng nuôicon nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Tăng Tú T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên Tòa và giấy triệu tập nhưng ông N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụngdân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn bà T và bị đơn ông N.

Về quan hệhôn nhân: Bà Tăng Tú T và ông Nguyễn Văn N xây dựng gia đình với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 19 tháng 12 năm 2012 nên được xem là hôn nhân hợppháp theoĐiều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông N biết để đến Tòa làm việc nhưng ông N đều vắng mặt không có lý do, do đó không có lời khai của ông N tại hồ sơ.

Bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông N với lý do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 11/2020 đến nay không bàn bạc đoàn tụ được. Do đó, xác định bà T và ông N đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm chohôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, xử cho bà T được ly hôn ông N là phù hợpvới quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà T và ông N có 01 người con chung tên là Nguyễn Thu H, sinh ngày 20/9/2013. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Xét thời gian qua bà T nuôi con tốt, ông N không có ý kiến phản ánh hay yêu cầu gì đối với việc nuôi con chung của bà T tại địa phương cũng như tại Tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu H cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà T nuôi con khôngyêu cầu ôngN cấp dưỡng nuôi con nên khôngxét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Tăng Tú T phải chịu 300.000 đồngtiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều28, Điều 35, Điều 39, Điều174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273Bộ luật Tố tụngdân sự;

Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của Bà Tăng Tú T đối với ông Nguyễn Văn N.

Xử cho Bà Tăng Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 20/9/2013 cho Bà Tăng Tú T trực tiếp nuôidưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Văn N không cấp dưỡng nuôi con.

Ông N được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôicon.

Về tài sản chung và nợ chung: Khôngxem xét.

2. Về án phí: Bà Tăng Tú T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trongvụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừvào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005219 ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Bà T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Bà T và ông N được quyền khángcáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theoquy định củaBộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ