vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thi H ly hôn Nguyễn văn L"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 11-8-2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tư.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 11 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 89/2021/TLST-HNGĐ

ngày 27 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 39/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2021, giữa các đương

sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị H - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: ấp A, xã B, thành

phố C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L - Sinh năm 1979 - Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện

I, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2021, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà

Lâm Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn L tổ chức đám cưới vào năm 1998 và có đăng ký kết

hôn ngày 03/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang. Chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn,

nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vả. Hiện bà và ông

L ly thân từ năm 2015 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Lâm Quốc T, sinh ngày 31/12/1999

và Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 10/10/2010 hiện đang sống với bà. Khi ly hôn con chung Lâm Quốc T đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Trúc P, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông L vắng mặt tại

phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Lâm Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn L có nơi cư trú

hiện tại ở ấp 1, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông L được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông

không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Lâm Thị H và ông Nguyễn Văn L chung sống có đăng ký kết hôn

ngày 03/12/2013 tại tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử nhận định: Bà H cho rằng

vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vả. Ông L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà H cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: con chung Lâm Quốc T, sinh ngày 31/12/1999 đã

thành niên không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Xét yêu cầu nuôi con chung Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 10/10/2010, Hội đồng xét xử nhận định: từ khi bà H và ông L sống ly thân con chung do bà H nuôi dưỡng, ông L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không tranh chấp về quyền nuôi con chung, con chung có nguyện vọng sống chung với bà H. Vì vậy, nhằm tránh sự ảnh hưởng về tâm lý con

chung và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của con chung nên giao con chung

Nguyễn Thị Trúc P cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Xét việc bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu

cầu nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm

đã nộp. Bà H đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Lâm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

2. Về nuôi con chung:

Con chung Lâm Quốc T, sinh ngày 31/12/1999 đã thành niên không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Bà Lâm Thị H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Trúc P,

sinh ngày 10/10/2010 hiện đang sống với bà H. Ông Nguyễn Văn L không phải cấp

dưỡng nuôi con chung.

Ông L được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích

con chung, bà H và ông L có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu

thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm

nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0009184 ngày 27/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ