- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/DSST Ngày: 17-9-2021 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Huy
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Mai Như Chi
2/ Bà Võ Thị Diệu Thảo
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Triều - Thư
ký Tòa án nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Vũ
Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P
Địa chỉ trụ sở: Tầng 16, 23, 24 Tòa nhà M, số 229 T S, phường S, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lương Trí V, sinh năm: 1989. Chức vụ: Chuyên viên Phòng xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần P - Chi nhánh Khánh Hòa là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo giấy ủy quyền số 019/2021/UQ-GĐCNKH ngày 26 tháng 01 năm 2021. (Ông Viễn có mặt)
* Bị đơn: Ông Ngô Thành H1, sinh năm 1978 và bà Trình Thị Kim H, sinh năm: 1980
Cùng cư trú: Tổ dân phố Phú Hải, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Bà H có mặt, ông H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/01/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lương Trí V trình bày:
Bà Trình Thị Kim H và ông Ngô Thành H1 có vay của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Khánh Hòa (viết tắt PG Bank) số tiền 300.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 0579/2019/KH/HĐTD/-CN/PG Bank ngày 22/8/2019 với thời hạn vay là 48 tháng, kể từ ngày 23/8/2019 đến ngày 23/8/2023 với lãi suất 11,7%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần vào ngày đầu tiên hàng quý, được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 18 tháng lãnh lãi cuối kỳ của PG Bank tại thời điểm thay đổi lãi suất cho vay cộng biên độ 3,7%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn, hình thức thay toán trả gốc và lãi hàng tháng, mục đích vay vốn là bổ sung vốn kinh doanh nuôi tôm hùm lồng. Ông H1, bà H có thế chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của ông bà, nội dung thế chấp được thực hiện tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0579/2019/KH/BĐ ngày 22/8/2019 đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, vợ chồng bà Trình Thị Kim H và ông Ngô Thành H1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 17/9/2021 bà H, ông H1 còn nợ của Ngân hàng PG Bank số tiền 253.126.633 đồng, trong đó tiền gốc: 225.000.000 đồng, lãi trong hạn: 20.846.798 đồng, lãi quá hạn: 1.128.705 đồng, lãi chậm trả gốc: 6.151.130 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông H1, bà H phải trả một lần gốc và lãi cho ngân hàng số tiền 253.126.633 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu một trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi ba đồng) và lãi tiếp theo của hợp đồng kể từ ngày 18/9/2021 cho đến khi hết nợ, nếu ông H1 bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng sau khi tòa án xét xử thì Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền để tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại bản tự khai ngày 06/4/2021 và tại phiên tòa, bị đơn bà Trình Thị Kim H trình bày: Vợ chồng bà có vay của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex và có thế chấp quyền sử dụng đất theo đúng như lời trình bày của đại diện nguyên đơn. Tại phiên tòa bà thừa nhận số nợ trên và đồng ý trả nợ nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên hiện nay không có khả năng trả nợ một lần, bà yêu cầu sẽ trả lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng vào cuối năm 2021 và bắt đầu trả gốc và lãi mỗi năm tiếp theo là 40.000.000 đồng cho đến hết nợ. Tuy nhiên đại diện ngân hàng không đồng ý.
- Bị đơn ông Ngô Thành H1 đã được Tòa án tiến hành đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng dân sự nhưng ông H1 nhiều lần vắng mặt, không đến Tòa để cung cấp lời khai cũng như tham gia vào các phiên hòa giải, xét xử.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
Đại diện nguyên đơn, bị đơn bà Trình Thị Kim H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Ngô Thành H1 không chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa các đương sự tuân thủ đúng qui định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí chi phí tố tụng dân sự theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố C. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Bị đơn ông Ngô Thành H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H1.
Về nội dung vụ án:
Ngày 22/8/2019 bà Trình Thị Kim H và ông Ngô Thành H1 có ký Hợp đồng tín dụng số 0579/2019/KH/HĐTD-CN/PG Bank với Ngân hàng PG Bank Chi nhánh Khánh Hòa số tiền 300.000.000 đồng với thời hạn vay là 48 tháng, kể từ ngày 23/8/2019 đến ngày 23/8/2023 với lãi suất 11,7%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần vào ngày đầu tiên hàng quý, được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 18 tháng lãnh lãi cuối kỳ của PG Bank tại thời điểm thay đổi lãi suất cho vay cộng biên độ 3,7%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn, hình thức thanh toán trả gốc và lãi hàng tháng, mục đích vay vốn là bổ sung vốn kinh doanh nuôi tôm hùm lồng. Ngày 23/8/2019 Ngân hàng đã thực hiện giải ngân cho bà H ông H1 số tiền 300.000.0000 đồng theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/0579/2019/KH/ĐNGN-KUNN/CN/PG Bank. Tuy nhiên, bà H ông H1 đã vi phạm cam kết trả nợ từ ngày 28/9/2020 khi đến hạn trả gốc và lãi hàng tháng, ngân hàng đã thông báo nợ quá hạn nhiều lần và ngày 15/12/2020 đã tiến hành lập biên bản làm việc yêu cầu bị đơn thanh toán phần nợ quá hạn chậm nhất vào ngày 25/12/2020 và đại diện cho bên vay là bà H đồng ý với biên bản làm việc và ký xác nhận nhưng đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Việc ông g Hòa bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng đã ký kết là vi phạm khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 0579/2019/KH/HĐTD-CN/PG Bank ngày 22/8/2019. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần P khởi kiện thu hồi nợ gốc và lãi là có cơ sở phù hợp với khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015 và Án lệ số 08/2016/AL nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, ông Ngô Thanh Hòa và bà Trình Thị Kim H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P số tiền 253.126.633 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu một trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền gốc: 225.000.000 đồng, lãi trong hạn: 20.846.798 đồng, lãi quá hạn: 1.128.705 đồng, lãi chậm trả gốc: 6.151.130 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 18/9/2021 cho đến khi thanh toán xong số nợ gốc.
Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0579/2019/KH/BĐ ngày 22/8/2019 đối với thửa đất số 268 tờ bản đồ số 36, diện tích 92,1 m2 tọa lạc tại tổ dân phố Phú Hải, phường Cam Phú, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 874524, số vào sổ cấp giấy CH 02004 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 19/7/2017 cho ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H. Xét thấy: Hợp đồng thế chấp trên thể hiện sự tự nguyện của các đương sự, được lập thành văn bản và được Văn phòng công chứng Trung Tâm chứng thực; tài sản thế chấp trên nhằm đảm bảo việc trả nợ của ông H1 bà H cho Ngân hàng. Do đó, nếu ông H1 bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 299, Điều 317 và khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể:
253.126.633 đồng x 5% = 12.656.332 đồng.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 280, Điều 299, Điều 317, khoản 7 Điều 323, Điều 351, Điều 357, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
1/ Buộc ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P số tiền 253.126.633 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu một trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền gốc: 225.000.000 đồng, lãi trong hạn: 20.846.798 đồng, lãi quá hạn: 1.128.705 đồng, lãi chậm trả gốc: 6.151.130 đồng.
Kể từ ngày 18/9/2021, ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H còn phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng.
2/ Ngân hàng Thương mại cổ phần P có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 874524, số vào sổ cấp giấy CH 02004 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 19/7/2017 khi ông H1, bà H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
3/ Nếu số tiền phát mại hoặc thu hồi từ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 874524 vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P, thì ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
4/ Về án phí: Ông Ngô Thành H1 và bà Trình Thị Kim H phải nộp 12.656.332 đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm ba mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P 5.865.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0001207 ngày 10/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C.
Quy định: Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngân hàng Thương mại cổ phần P, bà Trình Thị Kim H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ông Ngô Thành H1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Khánh Hòa - VKSND thành phố C - Chi cục THADS thành phố C - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Huy |